Nghệ thuật tả cảnh của thi hào Nguyễn Du

BY: HOÀNG THẠCH

 

Trong bài trước chúng tôi đã viết về nghệ thuật tả người của thi hào Nguyễn Du tài tình như thế nào thì nghệ thuật tả cảnh của Cụ cũng không kém phần đặc sắc. Cụ đã dùng cảnh vật thiên nhiên, cây cỏ, bông hoa để tả người thì Cụ cũng dùng cảnh vật trăng khuya, núi đồi, sông hồ, biển cả để diễn tả tâm tình của Kiều trong những hoàn cảnh khác nhau, theo kiểu "người buồn cảnh có vui đâu bao giờ" mà người ta gọi là lối tả ngụ tình. Nghệ thuật tả cảnh của Cụ Nguyễn Du nói chung rất đa dạng, tài tình và phong phú đã làm tăng giá trị và thi vị cho truyện Kiều qua các lối hành văn như:1)- Lối tả cảnh ngụ tình.

 

Đây là lối tả cảnh mà chúng ta đọc được nhiều đoạn khác nhau trong truyện Kiều. Có lúc Cụ Nguyễn Du dùng cảnh vật thiên nhiên, có lúc đưa tâm tình nhân vật hòa chung với vũ trụ bao la. Sau lễ Thanh Minh là cảnh chia tay, chị em Kiều trở về khi mặt trời đang ngả về hướng Tây báo hiệu một ngày sắp qua hoặc sâu xa hơn cuộc đời sắp tàn, như người ta thường nói "tuổi đã xế chiều"... Có cảnh chia tay nào mà không vương vấn nỗi nhớ. Cảnh vật chiều nay như hòa chung với nỗi buồn nao nao, thơ thẩn, man mác của chị em Kiều đang trên đường về. Cảnh chiều tà buồn buồn được diễn tả qua hai câu thơ dưới đây:

 

Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Cảnh đã vắng lặng lại thêm giòng nước của con suối nho nhỏ lững lờ trôi dưới chiếc cầu con con, nói lên được cảnh thanh tĩnh và giòng nước trong phản chiếu bóng cây mầu xanh xanh. Có đứng ngắm bên bờ suối vào lúc chiều tà người ta mới cảm thấy cái thi vị của một nỗi buồn bâng khuâng.
Bước dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.

 

Xa xa là cảnh cỏ cây in bóng hình dưới suối và gần đường đi cùng với mầu tàn úa của đám cỏ bên đường, cạnh nấm mồ hoang thấp lè tè làm gia tăng cảnh buồn vào lúc hoàng hôn.

 

Sè sè nấm đất bên đàng,
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
Rằng: Sao trong tiết thanh minh,
Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?

 

Cách dùng các chữ "thanh thanh, nao nao, nho nhỏ, sè sè, dàu dàu, vắng tanh" của tác giả rất kỳ diệu, nó nói lên cái cảnh thanh vắng của một buổi chiều đầy thơ mộng. Nó cũng tạo lên cái cảm giác buồn nhè nhẹ, thoang thoảng, không làm cho con người quá sầu lụy để rồi những giọt nước mắt phải tuôn rơi.3)- Lối tả cảnh buồn
Khi Kiều được Tú Bà tha tội cho ra lầu Ngưng Bích nghỉ ngơi theo kế hoạch dụ dỗ hiểm độc của bà ta, nàng phải sống lẻ loi, lòng buồn vời vợi khi đưa mắt nhìn cảnh trời đất về chiều đêm hiện ra:

 

Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác, biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ dàu dàu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt ghềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

 

Từ lầu Ngưng Bích nhìn ra cửa biển vào buổi chiều tối, Kiều thấy hình ảnh chơi vơi của một con thuyền còn căng buồm lơ lửng giữa sóng nước. Cảnh lạc lõng chưa về bến của con thuyền là bức tranh đẹp nói lên cái buồn man mác của thiên nhiên, khi ngày sắp qua và lúc màn đêm đang buông xuống. Mỗi khi cơn sóng lên cao, vỗ xuống làm cho những cánh hoa tàn không biết sẽ trôi về phương trời nào. Có nhìn cảnh chiếc lá vàng rơi trôi lững lờ trên mặt nước, người ta mới thấy cái buồn làm sao ấy của thiên nhiên, cảnh vật và con người.

 

Gần hơn, Kiều thấy đồng cỏ xanh tươi trải dài trên mặt đất tới tận chân trời. Gió thổi qua ghềnh đá và tiếng sóng vỗ quanh ghế ngồi vào một buổi chiều tối thật là khung cảnh hợp với tâm hồn nhớ nhà, nhớ cha mẹ của Kiều. Quí vị trung và cao niên chắc còn nhớ đoạn thơ tả cảnh thiên nhiên và tâm tình buồn nhớ quê hương của Thuý Kiều trên đây mà ai cũng thuộc lòng, đã được in vào sách giáo khoa của Bộ Giáo-dục dưới thời Việt Nam Cộng Hòa. Điều đó chứng tỏ nghệ thuật mượn thiên nhiên, hòa chung vào tâm sự nàng Kiều là những ngón điêu luyện của văn chương truyện Kiều.

 

Đọc lại đoạn thơ Cụ Nguyễn Du tả Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích đưa mắt nhìn cảnh chiều tà, chúng tôi lại liên tưởng đến bài thơ thất ngôn bát cú tuyệt diệu của Bà Huyện Thanh Quan. Bà cũng tả cảnh một buổi chiều trong đó ngư ông gác mái chèo để trở về nhà sau một ngày đánh cá vất vả. Bài thơ này có phần nào trùng hợp với cảnh buồn lúc chiều tối trên biển nước gần lầu Ngưng Bích. Bài thơ hay như bản tình ca bất diệt mà qua năm chục năm hay nửa thế kỷ rồi chúng tôi vẫn chưa quên. Bài thơ tả cảnh thiên nhiên và tâm trạng của người nhớ quê hương cũng được tuyển chọn và ghi vào sách giáo khoa của Bộ giáo-dục Việt Nam Cộng Hòa:
Cảnh chiều hôm

 

Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn.
Gác mái, ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?4)- Đem Trăng vào truyện Kiều.

 

Trăng thường là đề tài muôn thuở tạo nên nguồn cảm hứng của văn thi sĩ xưa và nay. Trăng cũng đã gợi cảm hứng cho các nhạc sĩ sáng tác nhiều bản tình ca quê hương bất hủ như nhạc bản "Gạo trắng trăng thanh" của Hoàng Thi Thơ, hoặc các bài thánh ca nhiệm mầu đã làm rung động con tim của bao lớp người. Bản thánh ca "Trinh Vương Maria: mở đầu Như một vầng trăng, vầng trăng tuyệt vời..." của nhạc sĩ Phạm Đức Huyến có nội dung ca tụng vẻ đẹp dịu hiền của Đức Trinh Nữ Maria, mà hầu hết giáo dân siêng đi lễ cầu nguyện và ca hát nhạc đạo đều thuộc lòng là một chứng minh.
Trăng có mặt khắp nơi, không chỉ chiếu sáng cho người nam hay nữ mà cho mọi người, như thi-sĩ Hàn Mặc Tử đã diễn tả qua hai câu thơ:

 

Không gian dày đặc toàn trăng cả,
Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng

 

Trăng không những có mặt trong thi ca, trong văn chương, mà nó còn góp mặt trong các môn nghệ thuật hội họa, tạo nên những bức tranh thủy mặc thật đẹp. Trăng là một hình ảnh thân thiết với đời sống con người, đặc biệt với người dân nông thôn. Trong đời sống chúng ta, có lẽ không ai lại không có đôi lần ngắm trăng trong các ngày lễ, Tết Trung Thu là một trường hợp điển hình. Đối với các thi nhân thì trăng có một ý nghĩa và là đối tượng đặc biệt để từ đó nguồn thơ trở nên mượt mà lai láng. Vốn đã mang sẵn một tâm hồn nhạy cảm, đa tình, yêu nghệ thuật, nên khi ngắm trăng, các nhà thơ không khỏi say đắm trăng, như chú Cuội say đắm chị Hằng.
Cụ Nguyễn Du là một nhà thơ lão luyện thì trăng đối với Cụ cũng như người bạn tình muôn thuở và trăng đã được cụ đem vào truyện Kiều một cách tài tình. Có hơn 60 câu thơ nói về trăng, tả về cảnh hoặc tâm tình của các nhân vật trong truyện, đặc biệt đối với nhân vật chính Thúy Kiều. Trăng hiện ra tùy hoàn cảnh, tùy cảnh vật, tùy nơi chốn và nó như tỏa ánh sáng dịu dàng, đưa con người vào tâm cảnh bình an hay buồn tủi.
Khi diễn tả gương mặt xinh đẹp của Thúy Vân có đôi nét khác biệt với Thúy Kiều, tác giả đã mượn hình ảnh dịu dàng của mặt trăng:

 

Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Trăng đầy là trăng rằm. Nó đẹp và hoàn chỉnh nhất. Trong toán học người ta cũng xếp hình tròn là hình toàn vẹn so với các hình khác. Gương mặt của Thúy Vân, gương mặt đẹp tròn như trăng rằm, gương mặt của một người con gái phúc hậu, tươi cười và cởi mở. Trăng cũng được dùng để nói về nam giới, đặc biệt là các chàng thư sinh đang cắp sách tới trường hay học tại tư gia của một cụ đồ nào đó. Trong truyện Kiều thì trăng cũng được nói tới khi Cụ Nguyễn Du tả chàng Kim Trọng:

 

Đề huề lưng túi gió trăng,
Sau lưng theo một vài thằng con con.
Bốn chữ: ”lưng túi gió trăng”, gió trăng là hai trong số các cảnh vật thiên nhiên mà các thi sĩ thường dùng để viết lên thơ hoặc cùng nhau ngồi ngâm vịnh thơ dưới những đêm trăng thanh gió mát. Túi gió trăng có ý nói tới túi thơ và vì đang là thư sinh, nên thơ của Kim Trọng còn ít, còn vơi. Kim Trọng đang học để thi đậu làm quan mà thi cử ngày xưa thì đa số nói về kinh sách của Đức Khổng Tử, các danh nhân và những bài thơ tuyệt tác của các thi sĩ lừng danh Việt-Tầu, mà thí sinh nào cũng phải thuộc và viết cho đúng. Đọc câu thơ trên, chúng ta thấy tác giả không dùng chữ "thư sinh", mà dùng bốn chữ với nghĩa bóng "lưng túi gió trăng". Tuy vậy, người đọc có thể hiểu và hình dung được cái dáng dấp của anh chàng thư sinh Kim Trọng như thế nào.

 

Khi nói về thời gian và không gian của sự việc xảy ra, trăng được tác giả diễn tả theo thể nhân cách hóa:
Gương nga chênh chếch nhòm song,
Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân.
Gương Nga tức là mặt trăng sáng như gương. Nga tức là Thường Nga hay Hằng Nga là tên người vợ của Hậu Nghệ ngày xưa. Nàng đã ăn vụng thuốc trường sinh của chồng trốn lên mặt trăng. Do điển tích này mà về sau người ta dùng trong văn chương để chỉ cho mặt trăng. Ở đây, tác giả cho chúng ta thấy một hình ảnh tuyệt đẹp. Hai chữ "chênh chếch" diễn tả mặt trăng nghiêng nghiêng, có vẻ như người đang nhìn lén qua cửa sổ vào trong nhà. Ca dao Việt Nam cũng có câu:
Buồn trông chênh chếch sao mai,
Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ?
“Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân”. Câu này, tác giả cho chúng ta một hình ảnh thơ mộng tuyệt đẹp của đêm trăng. Ánh trăng vàng chiếu xuống nước làm cho cả vùng nước biến thành mầu vàng long lanh. Hai chữ "ngấn nước" là diễn tả mặt nước bị gió nhè nhẹ thổi làm cho nổi sóng nhỏ. Những ngọn sóng nhỏ tạo thành những đường nước dài nhấp nhô dưới ánh trăng, nên tác giả dùng chữ lăn tăn thật tài tình. Chỉ trong hai câu thơ, tác giả đã tả toàn cảnh trời đêm trăng, suối nước và cây cối bên sân.
Chúng tôi ghi lại đây điển tích Hằng Nga và Hậu Nghệ để quí độc giả đọc và thưởng thức cái tài tình dùng trăng tả cảnh của Cụ Nguyễn Du và mỗi khi mừng Tết Trung Thu chúng ta có dịp kể lại điển tích này cho con cháu. Hằng Nga hay chị Hằng được nói tới nhiều trong thi ca của Tầu và Việt Nam.

 

Trong “Bích Câu kỳ ngộ” của Vô Danh có câu:  
Hay là lỗi sổ Hằng Nga,   
Đêm đông vò võ, bóng tà sao thưa.
Trong “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều, đoạn ca tụng sắc đẹp của nàng cung nữ, có câu:
Hương trời đắm nguyệt say hoa,  

 

Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đời nhà Trần (1225-1400) kêu gọi tướng sĩ, trong một bài hịch có đoạn “Nay ta bảo thật các ngươi nên cẩn thận như củi lửa, nên giữ gìn như kẻ húp canh, dạy bảo quân sĩ, luyện tập cung tên, khiến cho người nào cũng có sức khỏe như Bàng Mông và Hậu Nghệ, thì mới có thể dẹp tan được quân giặc, mà lập nên được công danh.”Sự tích Hậu Nghệ: Theo “Sơn hải kinh”, trên hang Dương phía bắc nước Răng-Đen có cây Phù tang to lớn sống ở dưới nước, 9 mặt trời ở cành dưới; 1 mặt trời ở cành trên. Theo sách của Hoài Nam Tử, đời vua Nghiêu, 10 mặt trời cùng mọc một lần làm cây cỏ khô héo, vua Nghiêu sai Hậu Nghệ bắn 10 mặt trời, bỗng có 9 con quạ rớt lông cánh xuống.

 

Theo kinh Thư của Đức Khổng Tử, vua nước Hữu-Cùng là Hậu Nghệ. Vì dân không phục đã nổi lên kháng cự Hậu Nghệ tại sông Hà. Sách “Tả Truyện” có chép: khi nhà Hạ suy, Hậu Nghệ nhờ sức mạnh địch muôn người đã ủng hộ dân chúng được lên làm vua thay thế nhà Hạ. Về sau, Hậu Nghệ ỷ mình bắn giỏi, không lo chính sự và dâm bạo hơn thú dữ. Dân chúng oán ghét nổi lên giết chết, lại lóc thịt bắt con của Hậu Nghệ ăn. Không nỡ ăn thịt cha, con của Hậu Nghệ cũng bị giết luôn.
Trong bản dịch thần thoại ”Lên cung trăng” của văn hào Trung Hoa là Ngô Tổ Quang có chép:

 

Một thời đại rất xa xưa... Lúc bấy giờ con người được tự do, không bị áp bức chiến tranh hoặc người hiếp bức người. Ai làm nấy ăn. Mặt trời mọc thì đi làm; mặt trời lặn, trở về nghỉ. Đói có hoa quả; khát có nước suối. Con người lúc bấy giờ không có họa do người tạo ra, chỉ có tại họa thiên nhiên. Để tránh gió mưa, rét mướt, loài người đốn cây làm nhà, dệt vải may áo... Ngày tháng trôi qua, con người dùng kinh nghiệm và lao lực để cải thiện đời sống, mưu lấy sự hạnh phúc thanh bình.

 

Nhưng, một hôm thình lình xảy ra một thiên tai dữ dội. Khắp dưới gầm trời đâu đâu cũng bị đại hạn. Nắng như lửa thiêu, đốt cháy tất cả, khiến cho sinh linh dậm đất kêu trời. Trên đường, thây người, thây thú chết chồng chất đầy dẫy. Nguyên ở gò đất cuối biển Đông có hang Dương. Nơi đây 10 con quạ vàng vâng lệnh Thượng Đế thay nhau ban ánh sáng cho vạn vật. Trên hang có cây Phù tang cao vút tận trời. Chín con quạ ở cành dưới, một con quạ ở cành trên. Từ ngàn xưa chỉ có một con ra khỏi biển hóa thành mặt trời, ngày ngày tháng tháng chiếu ánh sáng xuống mặt đất làm cho mưa hòa, gió thuận, vạn vật sinh hóa. Nhưng bất ngờ, một hôm bốn biển chuyển động, đất lở núi rung, cây Phù tang quay cuồng, vì 10 con quạ vàng tranh nhau xuất hiện cùng một lượt.

 

Thế là nắng như lửa thiêu, đốt cháy cả vạn vật. Ban đầu, người ta còn ngâm mình dưới nước, núp trong hang núi... nhưng rồi, đầm nước, dòng suối đều hóa thành những vạc nước sôi. Đất bằng bỗng chốc lửa dậy làm cho dân chúng điêu đứng, đời người biến thành địa ngục. Đương lúc tiếng khóc, tiếng kêu gào kinh khủng của dân chúng vang khắp nơi, bỗng có một vị anh hùng xuất hiện. Vị anh hùng đó có tên là Hậu Nghệ, sinh ở biển Đông, nước Hữu-Cùng. Người võ nghệ phi thường, sức có thể bạt núi lấp sông, giỏi nghề kỵ xạ. Hậu Nghệ có hai người học trò tên Phùng Mông và Ngô Cương đều có tài xuất chúng.
Trông thấy 10 con quạ vàng hoành hành dữ tợn làm cho nhà cửa tiêu tan, đồng ruộng khô cháy, Hậu Nghệ vừa hoảng kinh vừa tức giận, đem lòng thương xót sinh linh, và nghĩ đến mối liên hệ với thân mạng mình, nên mang 10 mũi tên thần, giương cây cung nặng 10 tạ lên quyết bắn 10 con quạ vàng cho tiêu ra tro bụi. Nhưng ánh sáng rạng chói làm cho mắt chàng đổ hào quang, không thể nhìn lên được. Hậu Nghệ bực tức, đứng tựa góc biển chân trời không do dự bắn luôn mấy phát. Những nơi có tên của Nghệ bắn tới thì nóng cháy nguội dần, ánh sáng êm dịu. Lông và cánh đủ màu của lũ quạ đua nhau rớt xuống và một làn không khí mát mẻ bắt đầu.
Trông thấy chín con quạ chết, Hậu Nghệ lại muốn giương cung bắn nữa, nhưng Phùng Mông ngăn lại:
- Thưa thầy! Nếu thầy bắn chết cả thì vũ trụ sẽ trở nên đen tối mất.
Nghệ ”à” một tiếng, hạ cung xuống. Bấy giờ núi sông trở lại như xưa, cây cỏ tươi tốt. Đâu đâu cũng vang dậy tiếng hò reo hoan lạc. Dân chúng ca tụng công ơn vĩ đại của Hậu Nghệ, tôn thờ ông là một vị cứu tinh và trọng quý ông hơn cha mẹ. Sơn hào hải vị, họ đem dâng cho Hậu Nghệ dùng.
Hậu Nghệ lên làm Hoàng đế.

 

Mười năm sau. Dân chúng trước kia bị tai ách của 10 con quạ vàng thì nay lại mang phải tai ách do Hậu Nghệ gieo rắc. Ỷ mình có tài, tự kiêu là cứu dân, Hậu Nghệ bắt dân phải làm tôi mọi mới xứng đáng đền đáp công ơn ấy và chiếm đoạt hết thịt rừng, tài sản của dân. Nhờ có Linh Chi dược thảo do ông Tiên ban cho, Hậu Nghệ lại tự hào là mình sẽ sống mãi mãi sợ gì ai. Dân bấy giờ sống trong tình trạng cực kỳ thảm khốc. Từng đám dân nghèo đói, quần áo rách nát, thân trụi mình trần, mặt mũi hốc hác vàng hoe, phải chúi đầu vào đất kiếm rễ cây ăn. Có những xác người thắt cổ treo lơ lửng trên cành cây làm mồi cho đàn quạ đương đảo qua lượn lại. Bấy giờ núi rừng hoang vu xơ xác, cành khô lá úa, năm ba gốc cây còn lại, nhưng trơ trọi, cằn cỗi. Ngày trước, Hậu Nghệ được bá tánh hoan hô vang dậy. Ai ai cũng trìu mến vâng theo. Khi Hậu Nghệ đi ra, cả ngàn người chạy theo quỳ lạy chúc tụng. Ngày nay, dân oán ghét căm thù. Hậu Nghệ đi đến đâu, bá tánh bỏ chạy đến đó. Hậu Nghệ nhục nhã, tức giận ra lệnh cho học trò là Ngô Cương tàn sát hàng triệu sinh linh. Bị đói rách, bị giết chóc, dân đau khổ, nỗi uất hận căm hờn ngùn ngụt cao mấy tầng mây. Phùng Mông can gián không được, bỏ Hậu Nghệ theo đám dân nghèo võ trang đánh lại thầy.

 

Vợ của Hậu Nghệ là Hằng Nga. Nàng là con nhà nghèo ở một cánh đồng hoang phương Bắc. Nhưng nàng là con chim phượng hoàng, là đóa hoa khôi sắc đẹp tuyệt vời. Ngô Cương vâng lệnh thầy đi tìm người làm hoàng hậu. Đến phương Bắc, Ngô Cương gặp và bắt Hằng Nga về dâng cho Hậu Nghệ. Hằng Nga được sủng ái và Hậu Nghệ giao Linh Chi cho nàng cất giữ. Hằng Nga vì bị bắt, bỏ cha xa mẹ, quyết liệt đòi về. Hậu Nghệ sợ Hằng Nga trốn trong khi bỏ nàng đi săn bắn, nên truyền cho Ngô Cương canh gác, không cho nàng rời khỏi cung. Hằng Nga buồn tủi, ngày ngày chỉ làm bạn cùng con Ngọc Thỏ trong cung lạnh. Trước sự tàn bạo của chồng, Hằng Nga không khuyên ngăn được; và biết rằng nếu chồng sống mãi thì càng làm nhiều tội ác, dân đau khổ càng nhiều; nên nàng nuốt cỏ Linh chi, để Hậu Nghệ không còn dùng cỏ tiên mà sống mãi nữa. Nuốt xong, Hằng Nga mặt mày xây xẩm một lúc, rồi thấy mình trở nên nhẹ nhàng, có thể bay bổng trong không khí. Một đám mây ngũ sắc dưới chân Hằng Nga từ từ nâng nàng lên, Ngọc Thỏ cũng chồm nhảy theo. Hằng Nga đưa tay dắt Ngọc Thỏ rồi từ từ bay qua cửa sổ lên cung trăng. Hậu Nghệ đi săn thịt trở về, thấy mất Hằng Nga liền bóp cổ Ngô Cương cho đến chết, vì để nàng trốn mất.

 

Hậu Nghệ chạy lại cửa sổ trông lên mặt trăng. Ánh trăng sáng vằng vặc chiếu vào mặt và thấy hình bóng của vợ thấy thấp thoáng trong trăng. Bất ngờ, Hậu Nghệ thét bọn vệ sĩ mang cung tên lại. Chúng khệ nệ khiêng chiếc cung và ba mũi tên lớn trên tường xuống. Hậu Nghệ đứng thẳng người như một trụ đá to, râu tóc dựng ngược, đôi mắt sáng quắc, không khác cảnh ngày xưa bắn mặt trời. Hậu Nghệ lắp tên, căng dây cung rồi bắn lên. Hai phát tên bay ra khiến mặt trăng lung lay. Nhưng mũi tên thứ ba bật khỏi dây cung, mặt trăng vẫn sáng chói như trước, không hề hấn gì. Hậu Nghệ hạ cung xuống, mặt mày buồn phiền, đứng im lặng và đau khổ. Bỗng một cụ già hiện xuống. Hậu Nghệ giựt mình, nhìn ra là ông lão đã cho mình Linh Chi thảo cách mười năm về trước. Cụ già liệng 3 mũi tên xuống đất, điềm đạm nói:

 

-Già xin hỏi cố nhân. Ngày trước hạnh ngộ, già có nhắn nhủ cố nhân việc trị đời không khó. Phải thực hành nhân chính, quên mình để lo cho người. Mình phải lo lắng cho dân trước nỗi lo lắng của họ và chỉ vui sau khi người dân vui. Dân quý nhứt, nước thứ nhì, vua sau hết (*). Cố nhân sẵn sàng vâng nghe, nên già thể theo lời yêu cầu tha thiết của cố nhân là muốn sống mãi để hoàn thành sự nghiệp, vì đời sống con người thì hữu hạn mà sự nghiệp thì vô cùng, mới cho Linh chi thảo. Vậy mà khi cầm lấy quyền, cố nhân lại quên mất lời. Dân không sợ chết, sao lấy sự chết chóc trị thiên hạ. Bao nhiêu năm trời loạn lạc đau thương, giờ đây lòng người ly tán, sự nghiệp tan hoang, cố nhân còn chưa tỉnh hay sao. Kìa, nghĩa quân đã hò reo tứ phía, cố nhân đã nghe chưa?
(*): Quan niệm của Đức Khổng Tử về chính trị: (Dân vi quý, Xã-tắc thư chi, Quân vi khinh)Hậu Nghệ hai tay ôm đầu, giọng nói thiểu não:
- Nghệ ăn năn, xin cụ chỉ giáo.

- Việc đã qua rồi, ăn năn không kịp. Chỉ có cách cố nhân bỏ sắc phục Hoàng-đế, ăn năn hối lỗi thì mới có cơ cứu vãn.

 

Hậu Nghệ cả giận, quắc mắt, quát:
- Lão già khốn! Thừa lúc hiểm nguy của ta mà sỉ nhục ta sao?
Vừa nói vừa rút gươm chém ông lão.

 

Cụ già bình thản đưa tay hất gươm ra. Hậu Nghệ rùng mình lui lại ngồi xuống. Cụ già mỉm cười:
- Cố nhân đến nước cùng mà còn hiếu sát. Kìa, cố nhân hãy nhìn xem.
Giữa lúc ấy bên ngoài có tiếng chém giết lẫn tiếng hò reo vang dậy. Nghĩa quân bao vây tứ phía dưới sự chỉ huy của Phùng Mông. Bóng trăng khuất dần. Cụ già biến mất. Lửa cháy khắp nơi. Tiếng la vang:
- Tiến! Tiến!
Hậu Nghệ rút gươm xông tới, Phùng Mông đưa gươm ngăn. Cả hai đánh nhau. Nghĩa quân ào đến. Hậu Nghệ kiệt sức bỏ chạy. Đám dân đói rách cầm hèo gậy chận lại. Nhìn qua tứ phía, nơi nào cũng có nghĩa quân. Phùng Mông kêu lên:
- Hậu Nghệ! Hậu Nghệ! Thầy làm việc bất nghĩa, ngày nay tự xử lấy, đừng để bọn tôi ra tay.
Hậu Nghệ đứng dậy, dậm chân, cất tiếng cười đau đớn, rồi đưa gươm đâm mạnh vào cổ. Xác Hậu Nghệ ngã xuống giữa tiếng reo hò của nghĩa quân.Còn người chặt cây quế trên cung trăng đuợc ghi trong sách ”Dậu dương tạp trở”. Trên mặt trăng có cây quế cao 500 trượng, sắc vàng, mùi thơm bát ngát, dưới gốc cây có một người ngồi chặt mãi, nhưng chặt xong, dấu chặt lại liền như cũ. Người ấy tên là Ngô Cương quê ở Tây Hà, tu tiên có lỗi nên bị trời phạt chặt cây. Ngô Cương cầm búa chặt mãi cây quế nhưng cây quế không sứt mẻ mà vẫn càng cao càng lớn, càng tươi. Hắn bị đọa vì tính hiếu sát theo thầy. Cây quế bị chặt nhưng không hề hấn, dân bị tàn sát nhưng dân làm sao diệt hết được.

 

Theo sách ”Ngũ thông kinh nghĩa”, trong mặt trăng có con thỏ (Ngọc Thố). Hằng Nga ngồi xem Ngọc Thố tán thuốc. Thỉnh thoảng, nàng lại thở dài, sa nước mắt. Nàng còn luyến tiếc cảnh trần gian. Vì trần gian đã chịu bao tai nạn: lụt lội, hạn hán, nắng lửa mưa dầu, binh đao chém giết, máu chảy thành sông, xương người thành núi. Tuy vậy, ngày nay dân chúng đã cố gắng chống trả được phần nào tai ách rồi. Kìa từng đám người nô nức đương cày cấy, ca hát vui mừng. Xa xa làn khói lam chiều vẩn vơ quyện trên những mái nhà nhỏ ấm cúng. Hằng Nga tưởng nơi đây có lẽ là phương Bắc, quê hương yêu dấu của nàng. Ở đây, quanh năm vắng lạnh, chẳng có bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Muôn vật không sinh, không hóa. Trăm hoa không nở không tàn. Chán chường cảnh đời lẻ loi, hiu quạnh, Hằng Nga muốn trở về trần thế. Nhưng vì đã ăn cỏ Linh Chi thảo, nàng không bao giờ chết. Nàng lại trẻ đẹp mãi, nhưng phải sống hoang liêu trên cung Quảng Hàn này.
Nhìn ra ngoài, nàng không thấy thế gian đâu nữa, tư bề lạnh lẽo âm u, Hằng Nga bất giác xót xa đau đớn, nước mắt chảy ròng.

 

Sau tấm bình phong bóng đuốc xa,
Sao mai lặn hết, vắng Ngân Hà.
Hằng Nga hối cắp Linh chi thảo,   
Sống mãi nhìn trời dạ xót xa.Kết luận

 

Học giả Đào Duy Anh đã có nhận xét chính xác về truyện Kiều “Chúng ta sở dĩ yêu chuộng truyện Kiều không phải nó có thể làm quyển sách luân lý cho đời, mà chỉ vì trong sách ấy, Nguyễn Du đã dùng những lời văn kỳ diệu để rung động tâm hồn ta...” (Khảo Luận về Kim Vân Kiều)..
Đúng vậy, những rung động của tâm hồn chúng ta có thể được khơi dậy khi đọc truyện Kiều, bởi vì những cảm xúc như vậy chúng ta vẫn từng chứng kiến trong cuộc đời, đặc biệt cuộc đời tị nạn và thân phận của những người phụ nữ đã và đang rơi vào hoàn cảnh đáng thương trên đất khách quê người.
Truyện Kiều, vì thế, đã sống mãi trong lòng dân tộc và qua các thời đại. n
--------------------
Tài liệu tham khảo
Ngoài những tài liệu đã in, một số tài liệu mới:
my.opera.com/vudangthanh/blog/200�
vantuyen.net/index.php
www.vietcyber.net/forums/showthread.php
music.vietfun.com/trview.php