Truyện Kiều ( Hoạn Thư ghen lập mưu bắt Kiều để hành hạ khiến nàng phải trốn ra ở Chiêu Ân Am )

BY: HOÀNG THẠCH

 

Sau Khi Bị Đưa Ra Tòa, Rồi Được Kết Hôn,
Kiều khuyên Thúc Sinh về thăm vợ cả,

Hoạn Thư ghen lập mưu bắt Kiều để hành hạ khiến nàng phải trốn ra ở Chiêu Ân Am

 

1- Đại ý đoạn thơ tiếp theo

 

Sau khi anh chàng đa tình Thúc Sinh cứu Kiều ra khỏi lầu xanh đem về làm vợ lẽ được nửa năm thì những sự rắc rối đã xẩy ra.

-Chuyện rắc rối 1: Cha của Thúc Sinh là Thúc Ông, sau khi biết chuyện, tức giận đòi Thúc Sinh phải trả Kiều về lầu xanh, vì con nhà gia giáo ai lại đi lấy gái làng chơi về làm vợ lẽ, khi chưa có phép. Thấy vậy Thúc Sinh bèn van xin, dù sao chàng đã phạm tội rồi, trời có sai sấm sét đánh tan thây và cha có dùng búa dìu chém chết, chàng cũng đành cam chịu. Vì người xưa thường nói: “Cùng qua một chuyến đò với nhau là nên nghĩa bạn bè và cùng ở một ngày với nhau là nên nghĩa vợ chồng”; nay con và Kiều đã thành vợ chồng rồi làm sao nỡ dứt bỏ; như cây đàn đang gẩy ai nỡ dứt dây? Nếu cha không bằng lòng thì con đành chết đi cho rồi!

 

Không biết phải giải quyết ra sao, Thúc Ông bèn đem vấn đề trình quan Tri Phủ, để không bị liên hệ và danh dự của gia đình không bị tổn thương. Quan liền ra lệnh đòi hai bị cáo trình diện gấp. Thúc Sinh bị phê phán về tội chơi bời trác táng và Kiều bị kết án mượn son phấn hương thừa đánh lừa người ta: “Tuồng chi hoa thải hương thừa, Mượn màu son phấn đánh lừa con đen”. Quan tòa đưa ra hai giải pháp: một là cứ theo luật mà trị tội kết hôn sái luân lý và bất hợp pháp; hai là Kiều phải tự ý trở về lầu xanh.

Trước hoàn cảnh ngang trái này, Kiều liền bày tỏ tình cảm chân thành đối với Thúc Sinh, quyết từ bỏ lầu xanh và chấp nhận những hình phạt sẽ xẩy ra cho mình. Chân, tay, cổ của Kiều bị cùm và bị đánh đập tàn nhẫn đến nỗi má hồng trở nên xám nhợt, đôi mày liễu bị xác xơ. Nàng đau đớn quằn quại trên sân làm bụi mù bay lên. Khuôn mặt sáng như gương bị nhợt nhạt, thân hình trắng đẹp như tuyết sương bị nhừ đòn trông héo hon như cành mai gầy: “Đào hoen quẹn má liễu tan tác mày, Gương lờ nước thủy mai gầy vóc sương”. Thấy Kiều rơi vào cảnh bị hành hạ tàn bạo, Thúc Sinh không khỏi đau lòng bèn khóc lớn than van và nhìn nhận mọi tội lỗi do mình gây ra. Quan tòa nghe được gạn hỏi. Thúc Sinh bèn trình bày hoàn cảnh oan khiên nghiệt ngã và tình cảm chân thành của Kiều đối với chàng. Để chứng minh nàng không phải là hạng dân thường, lợi dụng nhan sắc quyến rũ người khác, Thúc Sinh trình với quan phủ nàng có tài bút nghiên. Thấy vậy quan ra lệnh cho Kiều chứng minh tài nghệ. Kiều liền cầm bút viết thành thơ ngay tại chỗ. Thơ hay chữ đẹp khiến quan ca tụng sắc đẹp và tài làm thơ của nàng đáng giá nghìn vàng, không thua gì các thi hào nổi tiếng đời thịnh

 

Đường: “Khen rằng: Giá đáng Thịnh đường! Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân” và quan cũng khen hai người thật xứng đôi vừa lứa: “Thật là tài tử giai nhân, Châu Trần còn có Châu Trần nào hơn?” Lời khen này xóa án Kiều và Thúc Ông chấp nhận cuộc hôn nhân của con mình do quan tổ chức.

 

-Chuyện rắc rối 2: Sau một năm làm vợ lẽ Thúc Sinh, Kiều vốn tính ngay thẳng, muốn chàng báo tin này cho vợ cả biết để bà chấp nhận mối tình mới của chàng, để gia đình không rơi vào tình trạng xáo trộn, vì sớm muộn gì mối tình lẽ cũng bị lộ tẩy. Thúc Ông cũng đồng ý cho Thúc Sinh về thăm vợ cả. Khi chàng ra đi Kiều buồn man mác than thầm: “Vầng trăng ai xẻ làm đôi, Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường”. Vợ Thúc Sinh là Hoạn Thư, con gái của quan Bộ Lại (Bộ Nội Vụ), gia đình danh giá, đã nghe miệng người ta đồn đại về chồng chơi bời và có vợ lẽ; nhưng trong nhà thì chưa thấy chàng báo cáo gì. Hoạn Thư bực bội vì ghen tức và quyết ra tay trả thù đối thủ đã chia sẻ tình mình: “Làm cho nhìn chẳng được nhau, Làm cho đầy đọa cất đầu chẳng lên! Làm cho trông thấy nhãn tiền, Cho người thăm ván bán thuyền biết tay”. Hai gia nô báo tin đồn, một bị Hoạn Thư tát vào má, một bị bẻ răng. Bà ta cấm họ không được nói, để giữ danh giá cho bà và gia đình: “Chồng tao nào phải như ai, Điều này hẳn miệng những người thị phi!”.

 

Thúc Sinh về đến nhà vẫn tỏ ra đằm thắm với vợ cả như xưa “Chữ tình càng mặn chữ duyên càng nồng”. Không thấy vợ thắc mắc gì, Thúc Sinh tưởng rằng nàng chưa biết thì dại gì phải khai ra? “Nào ai có khảo mà mình đã xưng?”. Hoạn Thư ghen tức lắm, muốn làm lớn chuyện, nhưng lại sợ tai tiếng không chỉ cho chàng mà cho cả mình và dòng họ Hoạn nữa, nên âm thầm tính độc kế. Đường bộ từ Vô Tích đi Lâm Tri bắt Kiều phải mất một tháng, quá lâu, nên Hoạn Thư sai gia nhân đem thuyền và xích sắt đi bắt kiều về hành tội. Trong khi Kiều ở nhà một mình buồn vắng, thắp hương khấn vái cầu cho đời an vui, thì bất ngờ thấy quân gian tay cầm gươm sáng lòa đang đứng ngoài sân. Sau đó nàng bị hương mê bất tỉnh. Bọn gia nô của Hoạn Thư đem một cái xác vô danh bên bờ sông vất vào nhà và đốt nhà. Thúc Ông ở gần nhìn lửa bốc cháy vội vàng chạy qua tìm Kiều, thấy một xác cháy trong phòng, nghĩ nàng đã chết! Thúc Sinh đi thăm vợ cả rồi trở về được cha kể hết mọi chuyện vừa xẩy ra. Chàng đau buồn cho số phận nàng, nhưng muốn tìm hiểu rõ sự thật bèn tìm đến thày đồng bóng nhờ kiếm nàng. Sau khi đốt hương tụng niệm, xuất thần đi tìm hồn ma, cây nhang chưa cháy hết, thày đồng liền nói không thấy mặt Kiều và theo sự việc thì nợ trần của nàng chưa dứt. Phải chờ một năm chàng mới được gặp mặt nàng. Kiếm thấy xác cháy trong phòng làm sao Thúc Sinh có thể tin được lời thày đồng bóng nói nàng còn sống: “Sự nàng đã thế lời thầy dám tin! Chẳng qua đồng cốt quàng xiên”.

 

Hai tên gia nô sau khi đốt nhà, ôm Kiều xuống thuyền và đưa về cho Hoạn Thư để lập công. Khi tỉnh dậy Kiều thấy mình ở trong phòng lớn của một dinh thự có bảng đề “Thiên Quan Chủng Tể” có nghĩa là nhà của quan cao nhất Triều-đình (vì cha của Hoạn Thư làm Bộ-trưởng Nội-vụ, có quyền thay Vua tuyển chọn, thăng hay giáng chức các quan). Giữa phòng có chiếc giường sang trọng và người đàn bà đang ngồi trên đó là Hoan Thư liền lên tiếng hạch hỏi và mắng nhiếc Kiều “Con này chẳng phải thiện nhân, Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng, Ra tuồng mèo mả gà đồng” (chỉ là loại gái như mèo hoang ngoài nghĩa địa và gà hoang ngoài đồng). Kiều trình bày nỗi lòng và hoàn cảnh thật của mình, nhưng bị Hoạn Thư ra lệnh đánh 30 gậy tre, một trận nhừ tử, rồi đổi tên Thuý Kiều thành Hoa Nô, và ghép nàng vào danh sách gái hầu mặc áo xanh trong nhà. Có mụ quản gia thấy nàng thanh tú đem lòng thương hại, lo giúp đỡ cơm cháo, thuốc thang cho nàng sau trận đòn dã man. Bà cũng khuyên can Kiều đừng tự tử và cẩn thận về thái độ tiếp xúc với người lạ. Kiều than vãn cho cái kiếp “Bạc Mệnh’’ của mình, kiếp khổ nhục trong lầu xanh vừa qua đi, nay lại chịu kiếp làm con ở trong nhà người ta thật là nhục nhã. Qua một thời gian, bất ngờ Tiểu Thư (con gái của Hoạn Thư) về thăm mẹ. Hoạn Thư bèn sai Kiều qua làm nô tì cho con gái mình. Nhân một bữa Tiểu Thư hỏi về tài đàn ca, Kiều bèn gẩy cho nghe và từ đó Tiểu Thư không quá khắt khe đối với Kiều.

 

Sau khi về Lâm Tri thăm cha và biết Kiều đã bị chết cháy, Thúc Sinh lại trở về Vô Tích thăm vợ cả. Để trả thù kẻ chia sẻ tình nhà, Hoạn Thư sai Thúy Kiều, nay có tên là Hoa nô, bưng rượu ra tiếp chồng. Kiều nhìn ra Thúc Sinh và chàng cũng nhận ra nàng. Hoạn Thư bắt kiều cúi đầu dâng rượu cho Thúc Sinh. Trong lúc hai vợ chồng cụng ly, cười đùa thụ hưởng thì Kiều phải đứng trực hầu, một nỗi nhục khó tả. Dưới mắt Kiều thì Hoạn Thư: “Bề ngoài thơn thớt nói cười, Mà trong nham hiểm giết người không dao’’. Thúc Sinh thấy hoàn cảnh xót xa của Kiều cũng không cầm được nước mắt, mặt buồn rầu, giả bộ uống đã say và quay đi nơi khác. Hoạn Thư tinh ý, giả bộ hỏi tại sao trong tiệc vui đoàn tụ chồng vợ mà mắt chàng ngấn lệ. Thúc Sinh nói dối rằng, vừa về thăm cha, nhớ tình phụ tử sâu đậm, nay lại phải xa cách, không cầm được nước mắt. Hoạn Thư quá rành việc chồng nói dối và cao tay ấn hơn, lại bắt Kiều nâng ly mời rượu, làm sao cho chàng uống cạn ly để quên sầu. Chưa xong, Hoạn Thư còn bắt Kiều phải mua vui, gẩy đàn cho chàng tươi cười thoải mái. Từ khi gặp Kim Trọng Kiều đã gẩy khúc nhạc bạc mệnh và nay lại nhạc buồn vang vọng bên hai người đang say men tình: “Bốn dây như khóc như than, Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng” Kiều đau xót than thở: “Cùng chung một tiếng tơ đồng, Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm”. Khúc nhạc buồn làm cho Hoạn Thư nổi giận thêm, mắng Kiều là tại mày làm cho chồng tao mất vui, trong lúc vui ai lại gẩy nhạc buồn? Làm nhục Kiều trước mặt chồng, dù mới lần đầu, cũng đủ cho Hoạn Thư vui mừng trong lòng, vì đã trả được mối hận tình. Sau đó hai vợ chồng đưa nhau vào thiên thai, còn Kiều thì cô đơn suốt đêm dài:

 

“Người vào chung gối loan phòng,

Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài”.

 

Có ở vào trường hợp làm vợ lẽ mới cảm thấy thân phận hẩm hiu, buồn man mác và bị vợ cả dành hết lợi điểm cho mình. Kiều buồn, nhưng nỗi buồn nhẹ nhàng, hiu hắt, bên bóng đèn khuya. Trong lịch sử văn học Việt Nam, chắc quí vị cao niên cũng còn nhớ cái buồn cho thân phận phải làm vợ lẽ của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương chát chúa hơn, hậm hực hơn:

 

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung,

Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng!

 

Thúc Ông Cáo Quỳ Cửa Công

 

1385. Nửa năm hơi tiếng vừa quen,

Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng.

Giậu thu vừa nảy gió sương,

Gối yên đã thấy xuân đường đến nơi.

Phong lôi nổi trận bời bời,

Nặng lòng e ấp tính bài phân chia

Quyết ngay biện bạch một bề,

Dạy cho má phấn lại về lầu xanh.

Thấy lời nghiêm huấn rành rành,

Đánh liều Sinh mới lấy tình nài kêu.

1395. Rằng: Con biết tội đã nhiều,

Dẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam.

Trót vì tay đã nhúng chàm,

Dại rồi còn biết khôn làm sao đây.

Cùng nhau vả tiếng một ngày,

1400. ôm cầm ai nỡ dứt dây cho đành.

Lượng trên quyết chẳng thương tình,

Bạc đen thôi có tiếc mình làm chi.

Thấy lời sắt đá tri tri,

Sốt gan ông mới cáo quì cửa công.

1405. Đất bằng nổi sóng đùng đùng,

Phủ đường sai lá phiếu hồng thôi tra.

Cùng nhau theo gót sai nha,

Song song vào trước sân hoa lạy quì.

Trông lên mặt sắt đen sì,

Lập nghiêm trước đã ra uy nặng lời:

Gã kia dại nết chơi bời,

Mà con người thế là người đong đưa.

Tuồng chi hoa thải hương thừa,

Mượn màu son phấn đánh lừa con đen.

Suy trong tình trạng nguyên đơn,

Bề nào thì cũng chưa yên bề nào.

Phép công chiếu án luận vào.

Có hai đường ấy muốn sao mặc mình.

Một là cứ phép gia hình,

1420. Một là lại cứ lầu xanh phó về.

Nàng rằng: đã quyết một bề!

Nhện này vương lấy tơ kia mấy lần.

Đục trong thân cũng là thân.

Yếu thơ vâng chịu trước sân lôi đình!

1425. Dạy rằng: Cứ phép gia hình!

Ba cây chập lại một cành mẫu đơn.

Phận đành chi dám kêu oan,

Đào hoen quẹn má liễu tan tác mày.

Một sân lầm cát đã đầy,

Gương lờ nước thủy mai gầy vóc sương

Nghĩ tình chàng Thúc mà thương,

Nẻo xa trông thấy lòng càng xót xa.

Khóc rằng: Oan khốc vì ta!

Có nghe lời trước chẳng đà lụy sau.

1435. Cạn lòng chẳng biết nghĩ sâu.

Để ai trăng tủi hoa sầu vì ai.

Phủ đường nghe thoảng vào tai,

Động lòng lại gạn đến lời riêng tây.

Sụt sùi chàng mới thưa ngay,

Đầu đuôi kể lại sự ngày cầu thân:

Nàng đà tính hết xa gần,

Từ xưa nàng đã biết thân có rày.

Tại tôi hứng lấy một tay,

Để nàng cho đến nỗi này vì tôi.

1445. Nghe lời nói cũng thương lời,

Dẹp uy mới dạy cho bài giải vi.

Rằng: Như hẳn có thế thì

Trăng hoa song cũng thị phi biết điều.

Sinh rằng: Chút phận bọt bèo,

Theo đòi vả cũng ít nhiều bút nghiên.

Cười rằng: đã thế thì nên!

Mộc già hãy thử một thiên trình nghề.

Nàng vâng cất bút tay đề,

Tiên hoa trình trước án phê xem tường.

Khen rằng: Giá đáng Thịnh đường!

Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân!

Thật là tài tử giai nhân,

Châu Trần còn có Châu Trần nào hơn?

Thôi đừng rước dữ cưu hờn,

Làm chi lỡ nhịp cho đàn ngang cung.

Đã đưa đến trước cửa công,

Ngoài thì là lý song trong là tình.

Dâu con trong đạo gia đình,

Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong.

1465. Kíp truyền sắm sửa lễ công,

Kiệu hoa cất gió đuốc hồng điểm sao.

Bày hàng cổ xúy xôn xao,

Song song đưa tới trướng đào sánh đôi.

Thương vì hạnh trọng vì tài,

Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba.

Huệ lan sực nức một nhà,

Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa

 

Thúc Ông chấp nhận mối tình Kiều-Sinh, Kiều khuyên Thúc Sinh về thăm vợ cả

 

Mảng vui rượu sớm cờ trưa,

Đào đà phai thắm sen vừa nẩy xanh.

1475. Trướng hồ vắng vẻ đêm thanh,

E tình nàng mới bày tình riêng chung:

Phận bồ từ vẹn chữ tòng,

Đổi thay nhạn yến đã hòng đầy niên.

Tin nhà ngày một vắng tin,

Mặn tình cát lũy lạt tình tào khang.

Nghĩ ra thật cũng nên đường,

Tăm hơi ai dễ giữ giàng cho ta?

Trộm nghe kẻ lớn trong nhà,

ở vào khuôn phép nói ra mối đường.

1485. E thay những dạ phi thường,

Dễ dò rốn bể khôn lường đáy sông!

Mà ta suốt một năm ròng,

Thế nào cũng chẳng giấu xong được nào

Bấy chầy chưa tỏ tiêu hao,

Hoặc là trong có làm sao chăng là?

Xin chàng kíp liệu lại nhà,

Trước người đẹp ý sau ta biết tình.

Đêm ngày giữ mức giấu quanh,

Rày lần mai lữa như hình chưa thông.

1495. Nghe lời khuyên nhủ thong dong,

Đành lòng sinh mới quyết lòng hồi trang.

Rạng ra gửi đến xuân đường,

Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia…

Dặm hồng bụi cuốn chinh an,

Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.

Người về chiếc bóng năm canh,

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.

1525. Vầng trăng ai xẻ làm đôi,

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.

 

Hoạn Thư Ghen Lập Mưu Bắt Kiều

 

Kể chi những nỗi dọc đường,

Buồn trong này nỗi chủ trương ở nhà:

Vốn dòng họ Hoạn danh gia,

Con quan Lại bộ tên là Hoạn Thư

Duyên đằng thuận nẻo gió đưa,

Cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày.

ở ăn thì nết cũng hay,

Nói điều ràng buộc thì tay cũng già.

1535. Từ nghe vườn mới thêm hoa,

Miệng người đã lắm tin nhà thì không.

Lửa tâm càng dập càng nồng,

Trách người đen bạc ra lòng trăng hoa:

Ví bằng thú thật cùng ta,

Cũng dung kẻ dưới mới là lượng trên.

Dại chi chẳng giữ lấy nền,

Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình?

Lại còn bưng bít giấu quanh,

Làm chi những thói trẻ ranh nực cười!

1545. Tính rằng cách mặt khuất lời,

Giấu ta ta cũng liệu bài giấu cho!

Lo gì việc ấy mà lo,

Kiến trong miệng chén có bò đi đâu?

Làm cho nhìn chẳng được nhau,

Làm cho đầy đọa cất đầu chẳng lên!

Làm cho trông thấy nhãn tiền,

Cho người thăm ván bán thuyền biết tay.

Nỗi lòng kín chẳng ai hay,

Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài.

1555. Tuần sau bỗng thấy hai người,

Mách tin ý cũng liệu bài tâng công.

Tiểu thư nổi giận đùng đùng:

Gớm tay thêu dệt ra lòng trêu ngươi!

Chồng tao nào phải như ai,

1560. Điều này hẳn miệng những người thị phi!

Vội vàng xuống lệnh ra uy,

Đứa thì vả miệng đứa thì bẻ răng.

Trong ngoài kín mít như bưng.

Nào ai còn dám nói năng một lời!

Buồng đào khuya sớm thảnh thơi,

Ra vào một mực nói cười như không.

Đêm ngày lòng những dặn lòng,

Sinh đà về đến lầu hồng xuống yên.

Lời tan hợp nỗi hàn huyên,

Chữ tình càng mặn chữ duyên càng nồng.

Tẩy trần vui chén thong dong,

Nỗi lòng ai ở trong lòng mà ra.

Chàng về xem ý tứ nhà,

Sự mình cũng rắp lân la giãi bày.

1575. Mấy phen cười nói tỉnh say,

Tóc tơ bất động mảy may sự tình.

Nghĩ đà bưng kín miệng bình,

Nào ai có khảo mà mình đã xưng?

Những là e ấp dùng dằng,

Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi.

Có khi vui chuyện mua cười,

Tiểu thư lại giở những lời đâu đâu.

Rằng: Trong ngọc đá vàng thau,

Mười phần ta đã tin nhau cả mười.

Khen cho những chuyện dông dài,

Bướm ong lại đặt những lời nọ kia.

Thiếp dù bụng chẳng hay suy,

Đã dơ bụng nghĩ lại bia miệng cười!

Thấy lời thủng thỉnh như chơi,

Thuận lời chàng cũng nói xuôi đỡ đòn.

Những là cười phấn cợt son,

Đèn khuya chung bóng trăng tròn sánh vai.

Thú quê thuần hức bén mùi,

Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô.

1595. Chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ,

Một màu quan tái mấy mùa gió trăng.

Tình riêng chưa dám rỉ răng,

Tiểu thư trước đã liệu chừng nhủ qua:

Cách năm mây bạc xa xa,

Lâm Tri cũng phải tính mà thần hôn.

Được lời như cởi tấc son,

Vó câu chẳng ruổi nước non quê người.

Long lanh đáy nước in trời,

Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.

1605. Roi câu vừa gióng dặm trường,

Xe hương nàng cũng thuận đường quy ninh.

Thưa nhà huyên hết mọi tình,

Nỗi chàng ở bạc nỗi mình chịu đen.

Nghĩ rằng: Ngứa ghẻ hờn ghen,

Xấu chàng mà có ai khen chi mình!

Vậy nên ngảnh mặt làm thinh,

Mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày.

Lâm Tri đường bộ tháng chầy,

Mà đường hải đạo sang ngay thì gần.

1615. Dọn thuyền lựa mặt gia nhân,

Hãy đem dây xích buộc chân nàng về.

Làm cho cho mệt cho mê,

Làm cho đau đớn ê chề cho coi!

Trước cho bõ ghét những người,

1620. Sau cho để một trò cười về sau.

Phu nhân khen chước rất mầu,

Chiều con mới dạy mặc dầu ra tay.

Sửa sang buồm gió lèo mây,

Khuyển ưng lại chọn một bầy côn quang.

1625. Dặn dò hết các mọi đường,

Thuận phong một lá vượt sang bến Tề.

Nàng từ chiếc bóng song the,

Đường kia nỗi nọ như chia mối sầu.

Bóng đâu đã xế ngang đầu,

Biết đâu ấm lạnh biết đâu ngọt bùi.

Tóc thề đã chấm ngang vai,

Nào lời non nước nào lời sắt son.

Sắn bìm chút phận cỏn con,

Khuôn duyên biết có vuông tròn cho chăng?

1635. Thân sao nhiều nỗi bất bằng,

Liều như cung Quảng ả Hằng nghĩ nao!

Đêm thu gió lọt song đào,

Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời.

Nén hương đến trước Phật đài,

Nỗi lòng khấn chửa cạn lời vân vân.

Dưới hoa dậy lũ ác nhân,

ầm ầm khốc quỷ kinh thần mọc ra.

Đầy sân gươm tuốt sáng lòa,

Thất kinh nàng chửa biết là làm sao.

1645. Thuốc mê đâu đã rưới vào,

Mơ màng như giấc chiêm bao biết gì.

Vực ngay lên ngựa tức thì,

Phòng đào viện sách bốn bề lửa dong.

Sẵn thây vô chủ bên sông,

1650. đem vào để đó lộn sòng ai hay?

Tôi đòi phách lạc hồn bay,

Pha càn bụi cỏ gốc cây ẩn mình.

Thúc ông nhà cũng gần quanh,

Chợt trông ngọn lửa thất kinh rụng rời.

1655. Tớ thầy chạy thẳng đến nơi,

Tơi bời tưới lửa tìm người lao xao.

Gió cao ngọn lửa càng cao,

Tôi đòi tìm đủ nàng nào thấy đâu!

Hớt hơ hớt hải nhìn nhau,

Giếng sâu bụi rậm trước sau tìm quàng.

Chạy vào chốn cũ phòng hương,

Trong tro thấy một đống xương cháy tàn.

Tình ngay ai biết mưu gian,

Hẳn nàng thôi lại còn bàn rằng ai!

 

Thúc Sinh Mời Thầy Đồng Tìm Kiều

 

1665. Thúc ông sùi sụt ngắn dài,

Nghĩ con vắng vẻ thương người nết na.

Di hài nhặt gói về nhà,

Nào là khâm liệm nào là tang trai.

Lễ thường đã đủ một hai,

Lục trình chàng cũng đến nơi bấy giờ.

Bước vào chốn cũ lầu thơ,

Tro than một đống nắng mưa bốn tường.

Sang nhà cha tới trung đường,

Linh sàng bài vị thờ nàng ở trên.

1675. Hỡi ôi nói hết sự duyên,

Tơ tình đứt ruột lửa phiền cháy gan!

Gieo mình vật vã khóc than:

Con người thế ấy thác oan thế này.

Chắc rằng mai trúc lại vầy,

Ai hay vĩnh quyết là ngày đưa nhau!

Thương càng nghĩ nghĩ càng đau,

Dễ ai lấp thảm quạt sầu cho khuây.

Gần miền nghe có một thầy,

Phi phù trí quỷ cao tay thông huyền.

1685. Trên tam đảo dưới cửu tuyền,

Tìm đâu thì cũng biết tin rõ ràng.

Sắm sanh lễ vật rước sang,

Xin tìm cho thấy mặt nàng hỏi han.

Đạo nhân phục trước tĩnh đàn,

1690. Xuất thần giây phút chưa tàn nén hương.

Trở về minh bạch nói tường:

Mặt nàng chẳng thấy việc nàng đã tra.

Người này nặng kiếp oan gia,

Còn nhiều nợ lắm sao đà thoát cho!

1695. Mệnh cung đang mắc nạn to,

Một năm nữa mới thăm dò được tin.

Hai bên giáp mặt chiền chiền,

Muốn nhìn mà chẳng dám nhìn lạ thay!

Điều đâu nói lạ dường này,

1700. Sự nàng đã thế lời thầy dám tin!

Chẳng qua đồng cốt quàng xiên,

Người đâu mà lại thấy trên cõi trần?

Tiếc hoa những ngậm ngùi xuân,

Thân này dễ lại mấy lần gặp tiên.

 

Kiều Bị Bắt Về Hầu Hạ Hoạn Thư

 

1705. Nước trôi hoa rụng đã yên,

Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian.

Khuyển ưng đã đắt mưu gian,

Vực nàng đưa xuống để an dưới thuyền.

Buồm cao lèo thẳng cánh suyền,

Đè chừng huyện Tích băng miền vượt sang.

Dỡ đò lên trước sảnh đường,

Khuyển ưng hai đứa nộp nàng dâng công.

Vực nàng tạm xuống môn phòng,

Hãy còn thiêm thiếp giấc nồng chưa phai.

1715. Hoàng lương chợt tỉnh hồn mai,

Cửa nhà đâu mất lâu đài nào đây?

Bàng hoàng giở tỉnh giở say,

Sảnh đường mảng tiếng đòi ngay lên hầu.

A hoàn trên dưới giục mau,

Hãi hùng nàng mới theo sau một người.

Ngước trông tòa rộng dãy dài,

Thiên Quan Trủng Tể có bài treo trên.

Ban ngày sáp thắp hai bên,

Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà.

1725. Gạn gùng ngọn hỏi ngành tra,

Sự mình nàng phải cứ mà gửi thưa.

Bất tình nổi trận mây mưa,

Mắng rằng: Những giống bơ thờ quên thân!

Con này chẳng phải thiện nhân,

1730. Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng.

Ra tuồng mèo mả gà đồng,

Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào.

Đã đem mình bán cửa tao,

Lại còn khủng khỉnh làm cao thế này.

1735. Nào là gia pháp nọ bay!

Hãy cho ba chục biết tay một lần.

A hoàn trên dưới dạ ran,

Dẫu rằng trăm miệng không phân lẽ nào.

Trúc côn ra sức đập vào,

Thịt nào chẳng nát gan nào chẳng kinh.

Xót thay đào lý một cành,

Một phen mưa gió tan tành một phen.

Hoa nô truyền dạy đổi tên,

Buồng the dạy ép vào phiên thị tì.

1745. Ra vào theo lũ thanh y,

Dãi dầu tóc rối da chì quản bao.

Quản gia có một mụ nào,

Thấy người thấy nết ra vào mà thương.

Khi chè chén khi thuốc thang,

Đem lời phương tiện mở đường hiếu sinh.

Dạy rằng: May rủi đã đành,

Liểu bồ mình giữ lấy mình cho hay.

Cũng là oan nghiệp chi đây,

Sa cơ mới đến thế này chẳng dưng.

1755. ở đây tai vách mạch rừng,

Thấy ai người cũ cũng đừng nhìn chi.

Kẻo khi sấm sét bất kỳ,

Con ong cái kiến kêu gì được oan?

Nàng càng giọt ngọc như chan,

1760. Nỗi lòng luống những bàng hoàng niềm tây:

Phong trần kiếp chịu đã đầy,

Lầm than lại có thứ này bằng hai.

Phận sao bạc chẳng vừa thôi,

Khăng khăng buộc mãi lấy người hồng nhan.

1765. Đã đành túc trái tiền oan,

Cũng liều ngọc nát hoa tàn mà chi.

Những là nương náu qua thì,

Tiểu thư phải buổi mới về ninh gia.

Mẹ con trò chuyện lân la,

Phu nhân mới gọi nàng ra dạy lời:

Tiểu thư dưới trướng thiếu người,

Cho về bên ấy theo đòi lầu trang.

Lãnh lời nàng mới theo sang,

Biết đâu địa ngục thiên đàng là đâu.

1775. Sớm khuya khăn mắt lược đầu,

Phận con hầu giữ con hầu dám sai.

Phải đêm êm ả chiều trời,

Trúc tơ hỏi đến nghề chơi mọi ngày.

Lĩnh lời nàng mới lựa dây,

Nỉ non thánh thót dễ say lòng người.

Tiểu thư xem cũng thương tài,

Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân.

Cửa người đày đọa chút thân,

Sớm ngơ ngẩn bóng đêm năn nỉ lòng.

1785. Lâm Tri chút nghĩa đèo bồng,

Nước bèo để chữ tương phùng kiếp sau.

Bốn phương mây trắng một màu,

Trông vời cố quốc biết đâu là nhà.

Lần lần tháng trọn ngày qua,

Nỗi gần nào biết đường xa thế này.

 

Thúc Sinh về thăm quê, Hoạn Thư đem Kiều ra hành hạ trước mặt Thúc Sinh

 

Lâm Tri từ thuở uyên bay,

Buồng không thương kẻ tháng ngày chiếc thân.

Mày ai trăng mới in ngần,

Phần thừa hương cũ bội phần xót xa.

1795. Sen tàn cúc lại nở hoa,

Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân.

Tìm đâu cho thấy cố nhân?

Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương.

Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,

1800. Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê.

Tiểu thư đón cửa giãi giề,

Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.

Nhà hương cao cuốn bức là,

Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.

1805. Bước ra một bước một dừng,

Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:

Phải chăng nắng quáng đèn lòa,

Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?

Bây giờ tình mới rõ tình,

Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.

Chước đâu có chước lạ đời?

Người đâu mà lại có người tinh ma?

Rõ ràng thật lứa đôi ta,

Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.

1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,

Mà trong nham hiểm giết người không dao.

Bây giờ đất thấp trời cao,

Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?

Càng trông mặt càng ngẩn ngơ,

Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.

Sợ uy dám chẳng vâng lời,

Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.

Sinh đà phách lạc hồn siêu:

Thương ơi chẳng phải nàng Kiều ở đây

1825. Nhân làm sao đến thế này?

Thôi thôi ta đã mắc tay ai rồi!

Sợ quen dám hở ra lời,

Không ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.

Tiểu thư trông mặt hỏi tra:

Mới về có việc chi mà động dong?

Sinh rằng hiếu phục vừa xong,

Suy lòng trắc dĩ đau lòng chung thiên.

Khen rằng: Hiếu tử đã nên!

Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu.

1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,

Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.

Bắt khoan bắt nhặt đến lời,

Bắt quì tận mặt bắt mời tận tay.

Sinh càng như dại như ngây,

Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.

Ngảnh đi chợt nói chợt cười,

Cáo say chàng đã giạm bài lảng ra.

Tiểu thư vội thét: Con Hoa!

Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn.

1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,

Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.

Tiểu thư cười nói tỉnh say,

Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.

Rằng: Hoa nô đủ mọi tài,

Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe.

Nàng đà tán hoán tê mê,

Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.

Bốn dây như khóc như than,

Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.

1855. Cùng chung một tiếng tơ đồng,

Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.

Giọt châu lã chã khôn cầm,

Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt Tương.

Tiểu thư lại thét lấy nàng:

Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?

Sao chẳng biết ý tứ gì?

Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi.

Sinh càng thảm thiết bồi hồi,

Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.

1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,

Tiểu thư nhìn mặt dường đà can tâm.

Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:

Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay.

Sinh thì gan héo ruột đầy,

Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.

Người vào chung gối loan phòng,

Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:

<h3 style="MARGIN: 12pt 0cm 3pt">2- Chú giải và điển tích: </h3>

 

-Bề nào thì cũng chưa yên bề nào.

Câu trên có nghĩa: theo luật thì Thuý Kiều dù đã được cứu hoặc tự mình bỏ trốn khỏi lầu xanh cũng phải chờ một thời gian sống lương thiện đã rồi mới được kết hôn. Thúc Sinh, anh chàng sinh viên có vợ là con gái của quan lớn triều đình mà lại cưới một cô gái làng chơi làm vợ lẽ thì phải xin phép quan và cha là Thúc Ông. Kiều và Sinh đã tự ý ăn ở với nhau nửa năm rồi cha mới biết thì coi như sống trái với luật lệ và lễ giáo, nên “Bề nào thì cũng chưa yên bề nào“ là vậy.

-Ba cây chập lại một cành mẫu đơn: Ba cây (tam mộc) là ba cái gông cùm làm bằng gỗ để cùm chân, tay và cổ tù nhân. Theo sử liệu thì Đời Nhà Minh có lệnh nghiêm cấm các gái làng chơi (kỹ-nữ) không được dùng nhan sắc quyến rũ khách đến chơi bời, vì nó sẽ phá hoại gia đình của họ. Quan chức cũng không được phép ăn nằm với gái làng chơi, sợ làm mất danh tiếng cho cá nhân và triều đình Trong những truyện tình sử xưa cũng có ghi một số phụ nữ hành nghề bán dâm bị gông cùm và đánh cho tới chết. Trong một truyện tình sử người ta có nói tới một ông quan Huyện bị tố cáo tư tình với gái làng chơi. Quan trên bắt cô gái để điều tra; nhưng cô này, dù bị tra tấn chết đi sống lại mấy lần, có lúc bị đánh 300 roi, mà cứ nhất quyết nói là ông quan bị vu cáo oan. Kết cục nàng được thả và ông quan Huyện vô can. Ông Huyện vì ân tình đó đã bỏ chức quan, trốn cùng nàng đi sống ẩn dật ở một nơi khác 20 năm mà không ai biết. Khi có lệnh ân xá, hai người mới trở về quê và vui hưởng hạnh phúc gia đình đến trọn đời.

 

-Mặt sắt đen sì: do điển tích Bao Chửng đời Nhà Tống bên Tầu làm quan Giám Sát Ngự Sử, thay vua đi duyệt xét các vụ án hình sự khó khăn thường sinh ra oan ức cho các bị cáo. Ông là người đoan chính, nghiêm nghị, xét xử công minh nên ai cũng trọng kính. Mặt ông nghiêm lại hơi đen nên người ta gọi ông là Thiết-diện Ngự-sử (ông Ngự-sử mặt đen và lạnh như sắt). Cụ Nguyễn Du mượn tích này để tả vẻ mặt uy nghiêm của quan phủ.

 

-Châu Trần: Ở một thôn thuộc huyện Phong, tỉnh Giang Tô, xưa kia có hai họ Châu và Trần hứa hễ sinh con thì gả con cho nhau để đời đời kết nghĩa thông gia. Do đó thôn ấy được đặt tên là thôn Châu Trần. Về sau người ta dùng hai tiếng Châu Trần để chỉ những cuộc hôn nhân tốt đẹp, vợ chồng xứng đôi vừa lứa.

Nhà thơ Bạch Cư Dị thời thịnh Đường có những câu thơ về hai họ Châu Trần như sau:

”Từ Châu cố Phong huyện - (Ở huyện Phong xưa đất Từ Châu)

Hữu thôn viết Châu Trần - (có thôn gọi là Châu Trần)

Nhất thôn duy lưỡng tính - (Một thôn chỉ hai họ)

Thế thế vi hôn nhân”. - (đời đời kết làm thông gia).H