Bài suy niệm Chúa Nhật I Mùa Vọng – năm B

Chúa Nhật I Mùa Vọng – năm B


Lời Chúa: Is 63, 16b-17; 64, 1. 3b-8; Tv 79, 2ac và 3b. 15-16. 18-19; 1 Cr 1, 3-9; Mc 13, 33-37
***************

MỤC LỤC

1. Chú giải và gới ý suy niệm của Lm. Inhaxiô Hồ Thông
2. Chú giải và gới ý suy niệm của Lm FX Vũ Phan Long, ofm: Người giữ cửa canh thức ban đêm
3. Chú giải của Fiches Dominicales: Tỉnh thức chờ ngày Chúa trở lại
4. Chú giải của Noel Quesson: Phải canh thức
5. Phải tỉnh thức luôn (Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT)
6. Thái độ mong chờ Chúa đến (Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
7. Hãy coi chừng! (Trầm Thiên Thu)
8. Phải chi Ngài xé trời mà xuống… (Giêrônimô Nguyễn Văn Nội)

9. Mùa loan báo (Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)
10. Hãy Canh Thức Kẻo Bắt Gặp Ðang Ngủ (catholic.org.tw)
11. Tỉnh thức và cầu nguyện (ĐTGM. Ngô Quang Kiệt)
12. Câu chuyện cảnh giác (Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)
13. Hãy tỉnh thúc chu toàn công việc (Lm. Phêrô Lê văn Chính)
14. Canh thức chờ Chúa đến (Lm Bùi Thượng Lưu)
15. Tỉnh thức để bảo toàn sinh mạng (Lm. Trần Ngà)
16. Tỉnh thức (ĐGM. Nguyễn Sơn Lâm)
17. Mở rộng tâm hồn để đón Chua (Lm Nguyễn Bình An)
18. Hãy tỉnh thức và sẵn sàng
19. Hãy tỉnh thức (Lm. Nguyễn Hồng Giáo)
20. Tỉnh thức trong an vui (Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng)
21. Khao khát Chúa (PM Cao Huy Hoàng)
22. Vui mừng và hy vọng (JM. Lam Thy ĐVD.)
23. Phải canh thức! (P. Trần Đình Phan Tiến)

24. Canh thức và cầu nguyện để đón Chúa (Lm. Đan Vinh)
25. Bài giảng của Lm. Giuse Đinh Tất Quý
26. Tỉnh thức chờ đón Chúa đến (Ban Mục vụ Thánh Kinh & Ban Phụng tự TGP Sài gòn)
27. Tỉnh thức và sẵn sàng (AM Trần Bình An)

A. BẢN VĂN

Bài đọc I (Is 63, 16b-17; 64, 1. 3b-8)

Lạy Chúa, Chúa là Cha và là Ðấng Cứu Chuộc chúng con: danh Chúa đã có từ muôn đời. Lạy Chúa, tại sao Chúa để chúng con đi lạc xa đường Chúa, và làm cho tâm hồn chúng con trở nên chai đá, không còn biết kính sợ Chúa nữa? Vì các tôi tớ Chúa, các chi tộc thừa hưởng gia nghiệp Chúa, xin hãy đoái nhìn lại. Xin Chúa băng qua các tầng trời mà ngự xuống: các núi đồi rung chuyển trước tôn nhan Chúa. Chúa đã ngự xuống và các núi đồi rung chuyển trước tôn nhan Chúa. Ðó là việc từ xưa đến nay chưa từng có ai nghe thấy; lạy Chúa, không tai nào nghe thấy không mắt nào nhìn thấy một chúa nào khác ngoài Chúa đã dành những hồng ân cho những ai trông đợi Chúa. Chúa đã đón tiếp kẻ hân hoan thi hành công lý, và nhớ đến Chúa khi đi trong đường lối Chúa.

Này Chúa thịnh nộ, vì chúng con đã phạm tội. Chúng con đã luôn luôn ở trong tình trạng tội lỗi, thì làm sao sẽ được cứu rỗi? Tất cả chúng con đều đầy vết nhơ, và công nghiệp chúng con đều như chiếc áo dơ bẩn. Và không còn ai kêu cầu thánh danh Chúa, không còn ai tỉnh thức để bám lấy Chúa. Chúa đã ẩn nấp không cho chúng con nhìn thấy nữa, và Chúa đã phó mặc chúng con cho quyền lực tội lỗi. Tuy nhiên, lạy Chúa, Chúa là Cha chúng con, chúng con là đất sét, còn Chúa là người thợ gốm, tất cả chúng con đều do tay Chúa làm nên.

Bài đọc II (1 Cr 1, 3-9)

Anh em thân mến, chúc cho anh em đầy ân sủng và bình an của Thiên Chúa là Cha chúng ta, và của Ðức Giêsu Kitô.

Tôi hằng cảm tạ Chúa thay cho anh em, vì ơn đã ban cho anh em trong Chúa Giêsu Kitô. Vì chưng, trong Ngài, anh em được tràn đầy mọi ơn: ơn ngôn ngữ và ơn hiểu biết, đúng như Chúa Kitô đã minh chứng nơi anh em, khiến anh em không còn thiếu ơn nào nữa trong khi mong chờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tỏ mình ra. Cũng chính Ngài sẽ ban cho anh em bền vững đến cùng, không có gì đáng trách trong ngày Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ngự đến. Thiên Chúa là Ðấng Trung Tín, đã kêu mời anh em hiệp nhất với Con của Người, là Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Tin Mừng (Mc 13, 33-37)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Các con hãy coi chừng, hãy tỉnh thức và cầu nguyện, vì các con không biết lúc đó là lúc nào. Ví như người đi phương xa, để nhà cửa lại, trao quyền hành cho các đầy tớ, mỗi người một việc, và căn dặn người giữ cửa lo tỉnh thức. Vậy các con hãy tỉnh thức, vì các con không biết lúc nào chủ nhà trở về, hoặc là chiều tối, hoặc là nửa đêm, hoặc là lúc gà gáy, hay ban sáng, kẻo khi ông trở về thình lình, bắt gặp các con đang ngủ. Ðiều Ta bảo cho các con, thì Ta bảo cho tất cả mọi người là: Hãy tỉnh thức!”

 

MỤC LỤC

B. CÁC BÀI CHÚ GIẢI VÀ SUY NIỆM

Bài 1. Chú giải và gới ý suy niệm của Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Trong Tin Mừng, Đức Giê-su loan báo Ngài sẽ trở lại vào lúc bất ngờ không ai biết trước được và mời gọi hãy luôn luôn sống trong tư thế sẵn sàng đón tiếp Ngài.

CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG

Vào Chúa Nhật I Mùa Vọng năm B nầy, Phụng Vụ Lời Chúa hướng lòng chúng ta vào việc trông đợi Chúa đến:

Is 63: 16b-17, 19b; 64: 2b-7

Bài Đọc I là lời khẩn nguyện. Sau cuộc lưu đày ở Ba-by-lon, dân Do thái hân hoan trở về quê cha đất tổ. Nhưng họ sớm ngã lòng trước thức tế muôn vàn khó khăn, vì thế họ khẩn khoản nài xin Thiên Chúa xé trời mà ngự xuống, can thiệp vào lịch sử của dân Ngài. Trong suốt Mùa Vọng Giáo Hội hiểu rằng Thiên Chúa, trong Đức Giê-su Ki tô, đã thực sự ngự đến, xé tan mây trời để mưa hồng ân xuống. Giáo Hội tin tưởng vững vàng Thiên Chúa đã can thiệp vào lịch sử nhân loại rồi.

1Cr 1: 3-9

Trong Bài Đọc II, thánh Phao-lô vui mừng tạ ơn Thiên Chúa vì qua Đức Giê-su Ki-tô Thiên Chúa đã ban cho các Ki tô hữu Cô-rin-tô muôn vàn ơn phúc trong lúc chờ đợi Chúa lại đến.

Mc 13: 33-37

Trong Tin Mừng, Đức Giê-su loan báo Ngài sẽ trở lại vào lúc bất ngờ không ai biết trước được và mời gọi hãy luôn luôn sống trong tư thế sẵn sàng đón tiếp Ngài.

BÀI ĐỌC I (Is 63: 16b-17, 19b; 64: 2b-7)

Bản văn nầy bao gồm hai đoạn trích dẫn từ một lời khẩn nguyện mà vị ngôn sứ nhân danh toàn thể cộng đồng ngỏ lời với Thiên Chúa. Tách ra khỏi bối cảnh thực tế của nó, lời khẩn nguyện nầy nói lên nỗi xao xuyến muôn thuở của nhân loại trong cảnh khốn cùng trước sự im lặng của Thiên Chúa như thử Ngài chẳng hề quan tâm đến cuộc sống con người: “Phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống, cho núi non rung chuyển trước Thánh nhan!”.

Cộng đồng đang phải chịu thử thách này là cộng đồng Giê-ru-sa-lem hồi hương trở về quê cha đất tổ sau thời kỳ lưu đày dài lâu ở Ba-by-lon. Vua Ba tư là Ky-rô, sau khi chiếm kinh thành Ba-by-lon vào năm 539 trước Công Nguyên, năm sau đó đã cho phép những người lưu đày hồi hương. Sau khi trở về, những người nầy phải đối mặt với biết bao khó khăn trong cuộc sống, nhất là đau lòng trước cảnh nước mất nhà tan, cảnh Đền Thờ hoang tàn đổ nát trơ gan cùng tế nguyệt gần một nữa thế kỷ qua. Họ toan tính bắt tay vào việc tái thiết Đền Thờ, nhưng lực bất tòng tâm. Thêm nữa, gặp phải sự chống đối của những người địa phương và nhất là sự ngăn cản có hệ thống của dân Sa-ma-ri buộc họ phải bỏ dỡ dự án. Ấy vậy, Đền Thờ chính là dấu chỉ việc Đức Chúa hiện diện ở giữa dân Ngài. Phải chăng Thiên Chúa đã thực sự bỏ rơi dân Ngài? Lòng nhiệt thành của những ngày đầu tiên nhường chỗ cho nỗi thất vọng ê chề đắng cay.

Ở giữa họ, một vị ngôn sứ vô danh, được gọi I-sai-a đệ tam, củng cố niềm tin của họ và hướng dẫn lời cầu nguyện của họ. Chính lúc đó, bằng ngòi bút của mình, ông đã viết nên lời khẩn nguyện nầy như phương thế cuối cùng:“Lạy Chúa, Ngài là Cha chúng con!”.

  1. “Lạy Chúa, Ngài là Cha chúng con”

Lời khẩn nguyện ngỏ lời với “Thiên Chúa là Cha chúng con” ở đây là độc nhất vô nhị trong toàn bộ Cựu Ước. Chúng ta không gặp thấy như vậy trong các Thánh vịnh, Thánh Thi hay trong những lời cầu nguyện của Cựu Ước. Việc kêu cầu “Thiên Chúa là Cha chúng con” được lập đi lập lại đến ba lần trong lời khẩn nguyện nầy (hai lần trong đoạn trích hôm nay).

Thật ra, tình phụ tử của Thiên Chúa là một khái niệm thông thường và thường được nhắc đi nhắc lại: Thiên Chúa là Cha vì Ngài là Đấng Tạo Hóa; Thiên Chúa là Cha vì Ngài đã chọn dân Ít-ra-en làm “con của mình” (Đnl 32: 6). Nhưng danh xưng nầy chưa bao giờ được gặp thấy trong các lời cầu nguyện. Thật đáng lưu ý khi sự kiện nầy đột nhiên xảy đến sau cuộc lưu đày được xem như một thử thách thanh tẩy lớn lao. Vì thiếu nơi phụng tự và hy lễ, những người lưu đày đã nội tâm hóa tâm tình tôn giáo của mình. Mối quan hệ của họ với Thiên Chúa không còn hời hợt bên ngoài ở nơi các nghi thức phụng tự nhưng đã đạt đến chỗ tâm giao mật thiết hơn: “Thiên Chúa là Cha chúng con”.

  1. “Đấng cứu chuộc chúng con”

Danh xưng “Đấng cứu chuộc” được dịch từ nguyên ngữ Do thái: go’el, từ ngữ nầy có một ý nghĩa chính xác, nhưng khó lĩnh hội, vì không có từ ngữ tương đương trong các định chế của chúng ta. Từ Go’el chỉ một người bà con thân thuộc có phận sự bênh vực thân nhân của mình bị xúc phạm hay bị áp bức, chuộc lại người thân bị sa vào cảnh đời nô lệ (nhất là trong trường hợp nô lệ vì nợ nần), đồng thời đảm nhận trọng trách báo thù (đây là vai trò hàng đầu vào thời du mục). Ngôn sứ I-sai-a đệ nhị (vị ngôn sứ của thời lưu đày) đã thường nhắc nhở rằng Đức Chúa là go’el của dân Ngài, Ngài sẽ chuộc lại dân khỏi cảnh đời nô lệ Ba-by-lon. Sau khi trở về, danh xưng nầy được lập đi lập lại thông thường trên môi miệng của những người hồi hương.

  1. “Phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống…”

“Phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống, cho núi non rung chuyển trước Thánh Nhan!”. Lời nguyện xin này ám chỉ rất rõ nét đến việc Thiên Chúa tỏ mình ra trên núi Xi-nai trong cảnh tượng hùng vĩ: núi non rung chuyển dữ dội và khói tỏa mây mù bao phủ đỉnh núi. Dân Ít-ra-en đã thường hoài niệm những giây phút đặc ân nầy. Phải chi Thiên Chúa lại ngự xuống để tái thiết Đền Thờ và Thành Thánh!

  1. “Ngài đã ngự xuống…”

Bất ngờ, các động từ của đoạn văn đều được chuyển sang thì quá khứ: “Ngài đã ngự xuống, núi non đã rung chuyển trước Thánh Nhan. Từ cổ chí kim, thiên hạ chưa hề được ai nói cho biết, tai chưa hề được nghe, mắt chưa hề được thấy có vị thần nào, ngoài Chúa ra,đã hành động như vậy cho kẻ trông cậy ở nơi mình. Ngài đã đón gặp kẻ hoan hỹ ăn ngay ở lành và nhớ đến Ngài, khi theo các đường lối Ngài chỉ dạy”.. Ở đây, bản văn được dịch theo bản dịch La-tin của thánh Giê-rô-ni-mô, được gọi “Bản Phổ Thông” (Vulgata). Theo thánh nhân, nguyên bản Do thái ở thể cầu chúc hay nguyện ước phải được hiểu như chuyện đã xảy ra, bởi vì ước nguyện của vị ngôn sứ đã xảy ra rồi. Trời đã bị xé ra. Thiên Chúa đã đáp ứng nỗi mong chờ của con người vượt quá mọi niềm hy vọng. Ngài đã trở thành một người ở giữa họ. Đối với chúng ta, như đối thánh Giê-rô-ni-mô, lời nguyện ước của vị ngôn sứ đã được ứng nghiệm ở nơi biến cố Nhập Thể của Đức Giê-su Ki-tô.

Sau khi đã sửa đổi bản văn cho thích hợp với hoàn cảnh niềm tin hiện nay của mình, bản dịch lại được tiếp tục theo nguyên bản. Lời khẩn nguyện lại tiếp tục bình thường: lời ca ngợi Thiên Chúa xen lẫn với lời trách cứ vì Thiên Chúa “bỏ rơi” dân Ngài, nhưng cũng khiêm tốn thú nhận lỗi lầm và bày tỏ niềm tin tưởng. Một lần nữa Thiên Chúa được ngỏ lời là “Cha chúng con”.

Bài Đọc I chấm dứt với hình ảnh Thiên Chúa-người thợ gốm, ám chỉ đến chuyện tích sáng tạo cổ kính ở chương 2 sách Sáng Thế. Hình ảnh Thiên Chúa như người thợ gốm nhào đất sét nắn nên con người trên chiếc bàn xoay thuộc về gia sản thần thoại của những nền văn hóa thời xưa. Hình ảnh nầy diễn tả việc Thiên Chúa gắn bó với công trình của Ngài. Có một sự đối nghịch giữa “quyền lực của Ác thần” nhằm tiêu diệt con người và quyền lực của Đấng Tạo Hóa, Đấng làm cho con người, vốn đất sét mõng dòn yếu đuối, trở thành kiên trung bền vững khi Ngài tha thứ tội lỗi cho họ.

BÀI ĐỌC II (1Cr 1: 3-6)

Bài Đọc II được trích từ thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi các tín hữu Cô-rin-tô. Đoạn thư này được trích đọc vào Chúa Nhật I Mùa Vọng vì đề cập đến việc các Ki tô hữu mong chờ“ngày Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta”.

  1. “Ngày Đức Ki-tô, Chúa chúng ta”:

Chúng ta lưu ý rằng thánh Phao-lô biến đổi diễn ngữ quen thuộc của các ngôn sứ: “Ngày Đức Chúa” thành “Ngày Đức Giê-su Ki-tô”. Dưới ngòi bút của thánh nhân, Đức Chúa chính là Đức Giê-su Ki-tô, và ngày Đức Chúa chính là ngày Đức Giê-su Ki-tô trở lại trong vinh quang. Trong vài dòng cuối cùng của đoạn trích ngắn nầy, thánh nhân lập lại đến ba lần: “Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta”. Những Ki-tô hữu tiên khởi, như sách Công Vụ Tông Đồ làm chứng, đã ban tước hiệu Đức Chúa nầy cho Đức Giê-su Ki-tô, như chính Ngài đã công bố rằng “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất” (Mt 28: 18).

  1. Ngày chứa chan hy vọng:

Theo cùng viễn cảnh của các ngôn sứ, “Ngày Đức Chúa” rõ ràng là ngày Chung Thẩm, thánh Phao-lô nhắc nhở cho các tín hữu Cô-rin-tô phải “nên vững chắc đến cùng, nhờ thế không ai có thể trách cứ được anh em trong Ngày của Chúa chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô”. Nhưng việc người Ki-tô hữu mong đợi Chúa đến khác với dân Cựu Ước, bởi vì ngay từ bây giờ, họ được hiệp thông với Đức Ki-tô rồi; họ sống trong Ngài rồi. Sự mong đợi của họ chứa chan niềm hy vọng, bởi vì trong niềm mong chờ của họ Ngài hiện diện ở giữa họ rồi.

TIN MỪNG (Mc 13: 33-37)

Đoạn Tin Mừng nầy được định vị ở cuối bài diễn từ dài về Cánh Chung mà Đức Giê-su ngỏ lời với các môn đệ Ngài vài ngày trước cuộc Tử Nạn của Ngài (13: 1-37). Các môn đệ theo Ngài lên núi Ô-liu và ở đó, họ chiêm ngưỡng Đền Thờ Giê-ru-sa-lem với sự thán phục về vẻ huy hoàng của Đền Thánh. Đức Giê-su loan báo cho họ Đền Thờ sẽ bị phá hủy thành bình địa, và từ gợi ý nầy đến gợi ý khác, Ngài nói với các ông những tai ương hoạn nạn sẽ đánh dấu thời tận thế, trước khi Ngài ngự đến.

  1. Bố cục

Trong đoạn trích Tin Mừng hôm nay, “Đức Giê-su nói với các môn đệ của Ngài về ngày quang lâm của Người”. Vì thế, Ngài bắt đầu khi khuyên các môn đệ Ngài: “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến”, và kết thúc khi lập lại lời khuyên nầy nhưng mở rộng ra với hết thảy mọi người: “Điều Thầy nói với anh em đây, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người: hãy canh thức!”. Ở giữa là một dụ ngôn minh họa cho lời khuyên chủ đạo nầy.

Trong lời khuyên mở đầu, cách nói “Hãy coi chừng” theo tỉếng Hy lạp mang một ‎ý nghĩa cụ thể: “Hãy mở mắt” (13: 5, 9, 23). Vì thế, rất phù hợp với dụ ngôn về người giữ cửa phải luôn luôn trong tư thế sẵn sàng “mở mắt lắng tai” để nhận ra những bước chân từ xa của chủ trở về vào một lúc nào đó trong đêm khuya thanh vắng.

  1. Dụ ngôn

Đức Giê-su tự ví mình với chủ nhà trẩy đi phương xa và sẽ trở về bất ngờ mà không báo trước. Vì thế, các môn đệ của Ngài được ví như người giữ cửa phải canh thức đợi chủ trở về. Người giữ cửa là hình ảnh người gác đêm với sứ mạng rõ ràng là luôn luôn ở trong tư thế tỉnh thức trông chờ.

Chủ nhà sẽ trở về vào lúc chập tối hay nữa đêm hoặc lúc gà gáy hay tảng sáng. Chúng ta nhận ra ở đây đêm được chia thành bốn canh theo tập quán của người Rô-ma chứ không là ba canh như tại người Do thái (Lc 12: 38), còn người Việt Nam chúng ta lại phân chia “đêm năm canh, ngày sáu khắc”. Chi tiết nầy là chữ ký của thánh Mác-cô, thánh ký hiện ở Rô-ma bên cạnh thánh Phê-rô mà ông là thư ký. Thánh ký viết Tin Mừng cho cộng đoàn Ki-tô hữu Rô-ma, và rộng lớn hơn, cho thế giới chịu ảnh hưởng văn hóa Rô-ma.

  1. Biểu tượng của “Đêm”

Thánh Má-cô kết thúc đoạn Tin Mừng nầy với lời căn dặn của Đức Giê-su:“Điều Thầy nói với anh em đây, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là: phải canh thức!”. Bối cảnh của toàn bộ bài diễn từ về Cánh Chung nầy là câu chuyện riêng tư của Đức Giê-su với các môn đệ Ngài (13: 3-4), nhưng ở đây lời kêu gọi khẩn cấp phải tỉnh thức được gởi đến cho “hết thảy mọi người”, bởi vì sứ điệp nầy liên quan đến nhiều thế hệ theo sau nữa. Phải canh thức, phải luôn luôn trong tư thế sẵn sàng đợi chủ trở về. Rõ ràng chính trong đêm mà người ta phải canh thức. Chắc chắn hình ảnh “đêm” được nhấn rất mạnh ở đây: đêm là thời gian của bóng tối, nghĩa là môi trường của sự Ác. Người Ki tô hữu phải cảnh giác đừng để mình sa vào những việc làm ám muội gian ác.

Chủ nhà có thể đến vào lúc nữa đêm và gặp thấy những tôi tớ của mình đang ngủ…Các nhà chú giải nghĩ đến khoa thần bí Do thái về “Bốn Đêm” nhấn mạnh Lịch Sử thế giới. Bốn đêm được đánh dấu bởi bốn lần Thiên Chúa can thiệp dứt khoát:

- Đêm của công trình Sáng Tạo.

- Đêm Thiên Chúa ký kết giao ước với ông Áp-ra-ham và hứa với ông việc sinh hạ I-xa-ác.

- Đêm của cuộc Xuất Hành: dân Do thái vội vã rời đất Ai-cập và được cứu thoát.

- Đêm của ơn cứu độ trong tương lai, vương quyền của Thiên Chúa ngự đến một cách mầu nhiệm.

Thêm nữa, đêm Đức Giê-su cầu nguyện cũng trên chính núi Ô-liu nầy trước giờ khổ nạn của Ngài. Chính trong đêm ấy, sau khi cầu nguyện một mình, Ngài trở lại và gặp thấy các ông đang ngủ, Ngài nói với các ông: “Anh em hãy canh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ” (14: 38).

MỤC LỤC

 

Bài 2. Chú giải và gới ý suy niệm của Lm FX Vũ Phan Long, ofm: NGƯỜI GIỮ CỬA CANH THỨC BAN ĐÊM

  1. Ngữ cảnh

Bài này rút từ Diễn từ cánh chung (ch. 13) của Tin Mừng Máccô là chương nói về những vấn đề của thời buổi cuối cùng. Diễn từ này kết thúc bằng một lời kêu gọi khẩn thiết hãy tỉnh thức. Lời kêu gọi này không chỉ nhắm đến những người đang được Đức Giêsu ngỏ lời với (13,3), nhưng nhắm đến tất cả mọi người (13,37). Lời kêu gọi này được tác giả Mc nêu bật bằng hình ảnh người giữ cửa.

Vậy “tỉnh thức” trong Mc 13 có nghĩa là gì? Là không “ngủ” (c. 36). Nhưng hẳn không phải chỉ có nghĩa đen ấy.

  1. Bố cục

Đoạn văn này được bố cục theo kiểu cấu trúc đồng tâm (chuyển hoán), với đỉnh cao là c. 35:

a : Lời kêu gọi “tỉnh thức” gửi đến các môn đệ (c. 33);

b : Dụ ngôn người chủ đi xa (c. 34);

c : Lặp lại lời kêu gọi mở đầu và áp dụng theo dụ ngôn (c. 35);

b’: Tiếp nối dụ ngôn người chủ đi xa trở về (c. 36);

a’: Lặp lại lời kêu gọi “tỉnh thức” mở đầu, và gửi đến mọi người (c. 37).

Chúng ta cũng có thể thấy đây là một kết cấu song song, nhằm làm nổi bật ý tưởng ta không biết thời gian quang lâm; do đó, có hệ luận: phải tỉnh thức.

Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức (33a) Vậy anh em phải canh thức (35a)
vì anh em không biết khi nào thời ấy đến (34c) vì anh em không biết khi nào (35b)
phải canh thức (34c) không được ngủ (36b)
  1. Vài điểm chú giải

- hãy tỉnh thức (33): Tác giả dùng động từ lạ agrypnete, đồng nghĩa với động từ quen thuộcgrçgoreite; đây là một từ của nền văn chương khôn ngoan (G 21,32 LXX; Cn 8,34; Dc 5,2;Kn 6,15; Hc 36,16. Các bản Tân Ước khác cũng có dùng: Lc 21,36; Ep 6,18; Dt 13,17).

- cũng như người kia trẩy phương xa…, và ra lệnh cho người giữ cửa (34): Có một điểm gây thắc mắc: Nếu ông chủ đi phương xa, thì “để nhà lại, trao quyền cho các đầy tớ” là hợp lý rồi. Còn “chỉ định cho mỗi người một việc, và ra lệnh cho người giữ cửa phải canh thức” là cách bố trí của người đi vắng trong một thời gian ngắn. Tại sao lại chỉ lưu ý đến việc “canh thức” ban đêm? Ở đây tác giả Mc nối kết nhiều truyền thống: những lời Đức Giêsu kêu gọi tỉnh thức, dụ ngôn những nén bạc (Mt 24,42; 25,13-15; Lc 12,36-38; 19,12-13), với dụ ngôn người giữ cửa của riêng ông cộng với truyền thống kinh sư về ý nghĩa của “đêm”. Trong TM Mc, không có dụ ngôn “những nén bạc” như trong Mt và Lc.

- lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng (35): Người Rôma chia một đêm thành 4 canh, mỗi canh kéo dài 3 giờ. Còn người Do Thái quen chia đêm thành 3 canh (x.Tl 7,19; Lc 12,38). Nhưng tại sao bài Tin Mừng lại chỉ chú trọng đến “đêm”?

Trong nền văn chương Do Thái giáo, thời gian hiện tại thường được coi như một “đêm”, còn tương lai được ví với một “ngày” hoặc một “buổi sáng”. Những câu Cựu Ước nói về “đêm” theo nghĩa đen thường được áp dụng cho “đêm” của thế gian này. Chẳng hạn lời ông Bôa nói với bà Rút: “Hãy qua đêm ở đây” (R 3,13) được Rabbi Meir (#150 sau CN) trích quy chiếu về “thế gian hoàn toàn là đêm tối ấy” (Rút R. 6,4). Các kinh sư thường áp dụng từ ngữ “canh khuya” trong Tv 92 (“Thú vị thay… được tuyên xưng tình thương của Ngài từ buổi sớm, và lòng thành tín của Ngài suốt canh khuya”) cho thời gian hiện tại (Midr. Tv92,7). Sách Talmud chú giải câu Tv 104,20a như sau: “Đêm trở lại khi Chúa buông màn tối” là câu nhắm đến thế giới hiện nay, được so sánh với đêm tối.

Giống như các kinh sư, thánh Phaolô đã dùng những ý tưởng về “đêm” để mô tả thời kỳ hiện tại cho đến ngày Quang Lâm (Rm 13,12). Vì thế, ông đã kêu gọi người Rôma: “Đã đến lúc anh em phải thức dậy” (13,11), vì ơn cứu độ đã gần họ hơn khi họ mới tin, vì “đêm sắp tàn, ngày gần đến” (Rm 13,12; x. 1 Tx 5,5tt). Ông còn nói: “Vì chính anh em đã biết rõ: ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm” (1 Tx 5,2). Hình ảnh “kẻ trộm đến ban đêm” không có trong nền văn chương Do Thái, mà chỉ có trong Tân Ước thôi (Mt 24,42-44; Lc12,39t; 2 Pr 3,10; Kh 3,3; 16,15). Đây là một yếu tố thuộc truyền thống Ki-tô giáo bắt nguồn từ Đức Giêsu. Từ đó ông khuyên người Thêxalônica hãy tỉnh thức (1 Tx 5,6).

Vậy lời kêu gọi hãy tỉnh thức chờ đợi ông chủ trở về vào một lúc nào đó trong đêm khuya phải được hiểu theo chiều hướng này.

Nhưng làm thế nào dung hòa được hai chi tiết “trẩy phương xa” (đi lâu) và “về lúc chập tối” (đi ngắn hạn)? Trong văn chương Do Thái giáo, có một dụ ngôn na ná với dụ ngôn Mc13,34tt: Một bà chủ nhà có một nữ tỳ Êtióp. Chồng bà vượt biển đi xa. Suốt đêm, người nữ tỳ nói với bà: “Tôi đẹp hơn bà, đức vua yêu tôi hơn bà”. Bà chủ đáp: “Đến sáng rồi chúng ta sẽ biết ai là người đẹp hơn, ai là người được đức vua yêu thương”. Bài tường thuật tiếp: Các dân nước nói với Israel: “Các hành vi của chúng tôi thật đáng khen, và Đấng Thánh – xin chúc tụng Ngài – hài lòng về chúng tôi”. Rồi bài quy chiếu về Is 21,12 mà giải thích rằng “buổi sáng” đang đến là thời gian tương lai (Dân số R. 16,23 [70b]).

Bài dụ ngôn này cũng có những chỗ không ăn khớp với nhau, và có những chi tiết giúp hiểu bài Mc: đêm tối chính là thời gian hiện tại với những phiền muộn mà dân Chúa phải gánh chịu.

- phải canh thức (36): Trong nền văn chương Do Thái giáo, chủ đề “canh thức” được đề cập đến trong một viễn tượng quốc gia. Israel lúc đó đang bị các vương quốc của thế gian áp bức, chà đạp. Nhưng trong tương lai cánh chung, hoàn cảnh sẽ đảo ngược, Israel sẽ chiến thắng, sẽ nhận được danh dự và vinh quang. Đó là “ngày”.

Trong Tân Ước, giọng điệu ái quốc này không còn nữa. Nay người tín hữu phải chiến đấu “với những quyền lực thần thiêng, với những bậc thống trị thế giới tối tăm này” (Ep 6,12). Thế gian đang nằm dưới quyền của thần dữ (1 Ga 5,19). Thế gian đã quay lưng lại với Ngài, là nguồn ánh sáng. Vì thế, thời gian hiện tại chính là thời kỳ của bóng tối và đêm khuya.

Tuy nhiên, khi Đức Giêsu đến, sấm ngôn Is 9,1 nói về ánh sáng đã ứng nghiệm (x. Mt4,16). Đức Giêsu là ánh sáng soi chiếu trần gian (x. Lc 2,32; Ga 1,5; 8,12; 12,46). Ai tin vào Đức Giêsu, Đấng Mêsia, thì không phải ở trong bóng tối (Ga 12,46; x. 3,19; Cv 26,18;Cl 1,13; 1 Pr 2,9; Ep 5,8). Nhưng dù đã được giựt ra khỏi vương quyền của bóng tối (Cl1,13), dù đã trở thành con cái ánh sáng và ban ngày (1 Tx 5,5), người ấy vẫn còn sống trong thời gian của “đêm tối”, vẫn còn ở trong một hoàn cảnh có thể bị cám dỗ, có thể sa ngã, bị tà thần của thế gian hiện tại nắm bắt lại. Để mình bị những sức mạnh thế gian chiến thắng, buông mình theo những chuyện thế gian, đó chính là “mê ngủ”. Trong dụ ngôn, “giấc ngủ” tương ứng với “đêm”: “giấc ngủ” thuộc về “đêm”, bởi vì người ta ngủ ban đêm.

  1. Ý nghĩa của bản văn

* Lời kêu gọi “tỉnh thức” gửi đến các môn đệ (33)

Lời kêu gọi mở đầu này xác định chủ đề của đoạn văn: Phải tỉnh thức. Các môn đệ của Đức Kitô cần phải canh thức, bởi vì họ không biết ngày giờ (“thời ấy”) của cuộc Quang Lâm.

* Dụ ngôn người chủ đi xa (34)

Điểm chính của dụ ngôn là: ngày trở về của ông chủ là biến cố người ta không thể tiên liệu. Ông có thể về bất cứ lúc nào: chính khía cạnh này buộc người giữ cửa phải canh thức liên tục. Nhưng ông cũng có thể đi lâu: chính vì thế các gia nhân cứ phải sinh hoạt để điều hành các công việc của nhà và sinh lợi cho chủ. Các môn đệ của Đức Giêsu vừa là “các gia nhân” vừa là “người giữ cửa”; họ phải vừa làm việc vừa canh thức. Có thể hiểu đây là các vị lãnh đạo cộng đoàn Kitô hữu.

* Lặp lại lời kêu gọi mở đầu và áp dụng theo dụ ngôn (35)

Lời kêu gọi được lặp lại như một điệp khúc, nhưng ở đây, công thức “khi nào thời ấy đến” đã được giải thích bởi công thức song song “khi nào chủ nhà đến”. “Thời ấy” chính là lúc chủ nhà trở về, tức ngày Quang Lâm của Đức Giêsu. Tác giả diễn tả sự bấp bênh cách biểu tượng theo cái khung một ngày: “lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng”.

* Tiếp nối dụ ngôn người chủ đi xa trở về (36)

Các môn đệ của Đức Giêsu đang ở trong “đêm”, nhưng họ không được “ngủ”; họ vẫn sinh hoạt bởi vì ông chủ có thể về ngay trong đêm nay. Họ phải canh thức. Bởi vì biến cố ông chủ trở về thay đổi mọi sự, ta hiểu “làm việc” là “cùng làm việc”. Đức Giêsu đang hành động trong thế giới để đưa đến một nhân loại mới. Người lôi kéo con người vào làm việc với Người, làm cho họ thành những đầy tớ phục vụ hoạt động của Người. Nhưng để có thể cộng tác với Đức Giêsu, họ phải tỉnh thức để nhận ra những gì Người đang làm.

* Lặp lại lời kêu gọi “tỉnh thức” mở đầu, và gửi đến mọi người (37)

Lời kêu gọi ở đây chính là lời kêu gọi ở c. 33 được lặp lại. Cùng với lời kêu gọi ở c. 33, lời kêu gọi ở c. 37 này “đóng khung” toàn bài, đã xác nhận toàn bản văn bên trong được triển khai theo chủ đề “Sự tỉnh thức”. Nhưng đến đây, lời kêu gọi được gửi rộng rãi đến tất cả mọi người, nghĩa là không chỉ dành cho các vị lãnh đạo cộng đoàn, nhưng cũng được gửi đến toàn thể cộng đoàn Kitô hữu.

+ Kết luận

Vậy, “phải canh thức”! Đang khi tiến đi trong thế giới của đêm đen, người tín hữu được mời gọi thực hiện ơn gọi của mình và ân huệ đã nhận, đó là được làm con cái ánh sáng, mắt đăm đăm hướng về ngày chủ trở lại và về “ngày” đang đến. Sự canh thức ở đây mang tính cánh chung: hoàn toàn quay hướng về phía trước, về biến cố Đức Kitô sắp ngự đến trong tương lai. Theo nghĩa này, người tín hữu không thể canh thức nếu không chấp nhận chiến đấu (Rm 13,11tt; các vũ khí: 1 Tx 5,6-8; 1 Cr 16,13; Ep 6,10-20; 1 Pr 5,8t). Canh thức như thế là ngay từ bây giờ, sống trước đời sống tương lai (x. Rm 13,13). Thái độ cánh chung không khiến người ta phủ nhận thế giới, nhưng giúp người ta có một thái độ tự do lành mạnh, thanh thoát đối với tất cả những gì thuộc về thế giới, không sợ hãi loài người, không tìm danh vọng, không khắc khoải trước gian khó, đau khổ và cái chết (x. 1 Cr 4,3t).

  1. Gợi ý suy niệm
  2. “Canh thức” trong đêm tối của thời gian hiện tại trong khi chờ đợi Đức Giêsu trở lại, chính là đang sống trong tư cách những người đã được giải thoát, bởi vì bất cứ khi nào đến, Đức Giêsu sẽ bằng lòng nếu thấy các môn đệ của Người đang sẵn sàng với Người. “Canh thức” chính là một cách thức thường hằng người Kitô hữu theo mà sống trong thế giới.
  3. Canh thức như thế cũng là sống trong niềm vui. Niềm vui này không hề lệ thuộc những chuyện thay đổi của thế gian, vì nó trào vọt ra từ một nguồn mạch vĩnh hằng là chính Đức Giêsu Phục Sinh. Canh thức như thế còn là sống trong bình an, cho dù có gặp phong ba bão táp, bởi vì chính Đấng Phục Sinh đã cam đoan: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy” (Ga 14,27). Cuối cùng, canh thức như thế cũng là sống niềm hy vọng, bởi vì cái nhìn của chúng ta luôn nhắm về phía trước, về thế giới đang đến, về “ngày” đang lại gần.
  4. Tác giả Lohmeyer mô tả canh thức bằng câu nói: “Đời sống của người đạo đức không diễn tiến trong những trạng thái thiu thiu ngủ, những giấc mơ và những đam mê, nhưng trong nỗ lực dấn thân luôn luôn chăm chú và điều độ của con tim nhân loại”. Còn Schweizer định nghĩa canh thức là như “thái độ trong đó con người luôn luôn chờ đợi với tinh thần trách nhiệm Đức Chúa đến và không để mình bị sao nhãng trong thái độ sẵn sàng thường hằng này đối với Ngài bởi bất cứ điều gì”. Đấy là cách tốt để sống giáo huấn của Đức Giêsu.

MỤC LỤC

Bài 3. Chú giải của Fiches Dominicales: TỈNH THỨC CHỜ NGÀY CHÚA TRỞ LẠI

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

  1. Trong ánh sáng ngày Con Người trở lại.

Người ta chờ đợi phụng vụ năm B sẽ mở đầu bằng những trang đầu của Tin Mừng theo thánh Maccô là một điều hợp lý. Thế nhưng, không như người ta tưởng, phụng vụ hôm nay lại trích dẫn một đoạn trong phần gần cuối của Tin Mừng Maccô nói về “Ngày Tận Thế” để giúp soi sáng thêm ý nghĩa của Mùa Vọng ta đang bước vào.

Sở dĩ Đức Giêsu nói về ngày Tận Thế là vì các môn đệ đã lo lắng hỏi Người khi nghe Người loan báo đền thờ Giêrusalem sẽ bị tàn phá. Khi nhắc lại những lời Đức Giêsu nói với các môn đệ về ngày Tận Thế, thánh Maccô muốn các độc giả của Ngài hiểu rằng lời Chúa xưa nói với các môn đệ cũng là lời Người nói với họ hôm nay:

- Với những độc giả của Tin Mừng Maccô, là những người đã biết hay sẽ biết những năm tháng bi đát (năm 64 Nêrôn bắt bớ, năm 66 cuộc nổi dậy ở Palestin, năm 70 đạo binh của Titus chiếm đóng và phá hủy đền thờ), thì phải học biết rằng ngày Chúa trở lại mà họ tin là sắp đến còn lâu mới xảy ra.

- Còn với độc giả hôm nay và mọi thời cho đến ngày Đức Giêsu trở lại, lời Chúa loan báo soi sáng cho họ biết tầm quan trọng của thời họ đang sống: lịch sử đang tiến đến viên mãn và Đấng sẽ đến gặp gỡ chúng ta ở thời sau cùng này là Đức Giêsu cũng là “Con Người”.

  1. Mạc khải những thách thức thời hiện đại.

Thật ra khi né tránh câu hỏi KHI NÀO – bí mật của Chúa Cha – và NHƯ THẾ NÀO, Đức Giêsu có ý khuyến khích các môn đệ mình sống giây phút hiện tại trong sự dấn thân khiêm tốn và tin tưởng cùng với sự tỉnh thức nhạy bén. Người nói với các ông: “Anh em phải coi chừng (tiếng Hy lạp: hãy mở mắt), phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến.”

Những lời đó được minh hoạ tức khắc bằng dụ ngôn ngắn gọn cuối cùng: Dụ ngôn một người trẩy đi phương xa, chắc là xa lắm, và trao tất cả quyền hành cho các đầy tớ, sắp đặt mỗi người một việc, và dặn người gác cửa tỉnh thức. Chúa nhấn mạnh đến việc không biết trước ngày giờ sẽ đến (người ta không biết khi nào thời ấy sẽ đến: c. 33, người ta phải chờ đợi việc Chúa trở lại cách thình lình, không báo trước: c. 33,35,36) có mục đích duy nhất như một lệnh truyền hãy tỉnh thức.

Cách chỉ giờ giấc nối tiếp nhau của trình thuật rất có ý nghĩa, chứ không chỉ có tính cách kể chuyện, vừa thể theo cách người Rôma chia đêm thành bốn canh, vừa gợi nhớ bốn giai đoạn của cuộc thương khó, vừa đề ra bốn giai đoạn mà các môn đệ phải tỉnh thức, nghĩa là không những phải chống trả với sự buồn ngủ về thể lý, nhưng còn phải sẵn sàng đối đầu với sự việc sắp đến cách bất ngờ.

- “Buổi chiều”: Giờ mà Đức Giêsu đoán trước sự phản bội của Giuđa và sự từ chối của chính Phêrô (14,13-31).

- “Nửa đêm”: Giờ Chúa hấp hối trong vườn Giếtsêmani, mời gọi các môn đệ tỉnh thức, và ba lần “Người thấy họ ngủ”. Người nói: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện, kẻo sa chước cám dỗ” (14, 32-42).

- “Lúc gà gáy”: Giờ Phêrô chối Thầy trong sân thượng tế (1 4,66-72).

- “Sáng sớm”: Giờ các môn đệ bỏ trốn, Đức Giêsu bị Hội đồng trao nộp cho Philatô (1 5,1 …).

Một lần nữa khi nhấn mạnh lệnh truyền của Thầy “Hãy tỉnh thức” trước cuộc tử nạn, thánh sử Maccô muốn khuyến khích anh chị em ngày hôm qua, hôm nay và ngày mai đừng để cho lòng mình ra nặng nề, rối loạn, thất vọng. Nhưng luôn vững tâm tỉnh thức đón tiếp Đấng vẫn đến cho những ai luôn biết hiện diện với Người, và một ngày kia, Người sẽ đến trong vinh quang. Bởi lẽ chính ngay bây giờ, chính trong thực tại khiêm tốn diễn ra hằng ngày, mầu nhiệm cuộc gặp gỡ được thể hiện.

Sau hết, hình như điều quan trọng Đức Giêsu muốn nói với chúng ta không nằm trong chữ KHI NÀO hay BẰNG CÁCH NÀO vào thời sau hết mà nằm trong chữ AI: Phải gặp gỡ AI trong cuộc gặp gỡ sau cùng, cũng như nằm trong sự tỉnh thức tích cục giữa những lo toan của cuộc sống hằng ngày. Đó chính là điều Con người mời gọi mời gọi các tín hữu khi Người đến.

BÀI ĐỌC THÊM

  1. Ơn gọi của các môn-đệ: trở nên người canh thức cho thế giới. (Mgr. L. Daloz, trong “Vậy Ngài là ai?, Desclée de Bouwer, tr. 83-84).

Chương này dựng cảnh trí cho Đức Giêsu nói đến bi kịch của thế giới sẽ diễn ra: viễn ảnh của ngày tận thế. Sự chết và sống lại của đức Giêsu làm cho lịch sử nhân loại có ý nghĩa. Tại núi Câu Dầu, đối diện với Đền thờ, Đức Giêsu tâm sự với bốn môn đệ mà Người kêu gọi trước hết là “Phêrô, Giacôbê, Gioan và Anrê…”. Qua các ông, Người mạc khải cho chúng ta ý nghĩa của thời kỳ ta đang sống: đó là thời kỳ chờ đợi, người môn đệ phải là người canh thức, ngóng chờ chủ trở về. Đó là thời kỳ đầy mơ hồ cần sự phân định, và chúng ta được mời gọi phải canh phòng cẩn mật, đừng để bị phỉnh gạt chạy theo những đấng Mêsia giả hiệu. Đó là thời kỳ phấn đấu và chịu bách hại, thời kỳ chuyển bụng của một thế giới đang đau đớn trước khi sinh con. Đó là thời kỳ được ban cho các nhân chứng để rao giảng Tin Mừng cho mọi dân mọi nước. Đó là thời kỳ của Thần Khí, Đấng hướng dẫn miệng lưỡi các vị tử đạo.. Sự chết và sự sống lại của đức Giêsu phá vỡ cái vòng luẩn quẩn của những biến cố xoay vần bất tận. Xuyên qua ngay cả những bất an và những cùng khổ, từ nay lịch sử quy hướng về Con Người đang đến. Khi mọi chỗ nương tựa chắc chắn hữu hình và cả đến “trời và đất” đều sụp đổ, Người để lại cho các môn đệ Người một chỗ nương tựa vững chắc, đó là những lời Người không thể qua đi. Họ có bổn phận phải kiên trì quan sát những cành cây vả, để nhận ra và loan báo rằng, cây sắp đâm chồi nẩy lộc, và sau mùa đông rét buốt thì mùa hạ đang đến gần. Họ có bổn phận phải lắng tai để nghe hồi chuông báo hiệu giờ quyết định, mà không ai ngoài Chúa Cha được biết, và phải mở to đôi mắt để chiêm ngắm ngày mới, tỏa ánh vinh quang của Con Người. Từ nay ơn gọi của người môn đệ cho đến ngày tận cùng thời gian là làm người canh thức cho thế giới… “Lạy Đức Giêsu, xin hãy đến!”

  1. “Đợi chờ rạng đông”. (H.Vulliez, trong “Thiên Chúa rất gần năm B, Desciée de Brouwer, tr. 9-10).

Đức Giêsu luôn đến với ta cách đột ngột. Ngài loan báo những ngày thống khổ, mặt trời, mặt trăng và tinh tú sẽ không còn chiếu sáng, đồng thời Ngài gợi lên “sự trở lại của Con người” sự trở lại của chính Ngài, “trong uy quyền và vinh quang” viên mãn. Tất cả là để nói lên: “Hãy sẵn sàng, hãy tỉnh thức”.

“Hãy tỉnh thức”, đó là lời mời gọi khẩn cấp vang lên trong khung cảnh của ngày sau hết trong lúc xuất hiện một thế giờ mới. Trong bài đọc ngày hôm nay, lời mời gọi này được lặp lại bốn lần! Khi nói như thế, không phải Đức Giêsu muốn tung ra một lời đe doạ ghê gớm của ngày chung thẩm, hay muốn tạo cho người nghe cảm giác nổi gai ốc về tai hoạ sắp xảy đến. Nhưng ở đây qua dụ ngôn nén bạc chẳng hạn, không phải là chuyện tính sổ, mà trước hết là đừng ngủ mê, phải tỉnh thức sẵn sàng để đón tiếp, vì bất cứ lúc nào Thầy cũng có thể đến một cách bất ngờ. Làm sao các môn đệ hiểu được những lời này khi Đức Giêsu nói với các ông? Phải đợi đến sáng sớm Phục sinh, bóng lên trong ánh sáng mờ ảo của bình minh, dụ ngôn ngắn ngủi nay mới rõ nghĩa. Một chi tiết của bài đọc làm ta ngạc nhiên: Thầy sẽ đến ban đêm, vào bất cứ giờ nào: buốt tối, nửa đêm, lúc gà gáy hay lúc rạng đông? Không ai biết cả. Từ muôn thuở, từ lúc Thiên Chúa tách ánh sáng ra khỏi bóng tối, ngày và đêm chiến đấu với nhau và sẽ như thế mãi cho tới khi Chúa đến chiến thắng vĩnh viễn cho ánh sáng. Chiến thắng trên những quyền lực sự dữ của bóng tối. Thời gian ở đời này là thời gian chiến đấu. Đức Giêsu thúc giục bạn hữu mình và các môn đệ của Ngài hãy tỉnh thức, không như những người lính gác hay người lính tuần đêm, nhưng như người đợi chờ ánh bình minh, mong ngày tới để hưởng niềm vui và loan báo cho mọi người. Người cũng muốn các ông luôn phải sẵn sàng đón người, vì Chúa đến bất cứ lúc nào, chứ không chỉ vào “giờ chết” hay “ngày tận thế” mà thôi đâu. Trong mọi giây phút tăm tối của cuộc đời, ánh sáng soi dẫn của Chúa luôn bên ta. Nhiều người mời gọi người ta ăn năn trở lại bằng cách loan báo những tai hoạ khủng khiếp: “Hãy run sọ, hãy chuẩn bị”. Còn Đức Giêsu kêu mời một cách thanh thản, thực tế. Thanh thản như bầu trời lúc bình minh đầy ánh sáng. Thực tế như trái đất sống nhờ ánh sáng. Cái nhìn thanh thản và thực tế này tạo nơi chúng ta niềm cậy trông bởi vì nó đưa chúng ta vượt qua cái chết, vượt qua trần thế này. Cái nhìn ấy cũng hướng về ánh sáng luôn đến gần bên ta. Chúng ta có phải là những người đang mong chờ ánh bình minh không? Bước vào ngượng cửa Mùa Vọng này, chúng ta có sẵn sàng nhìn ngắm và đi theo ngôi sao dẫn chúng ta đến với Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người không?

MỤC LỤC

 

Bài 4. Chú giải của Noel Quesson: PHẢI CANH THỨC

Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức

Từ “Hãy tỉnh thức” được Chúa Giêsu nhắc lại bốn lần trong Tin Mừng Maccô.

Đó là lệnh truyền Đức Giêsu, ngay trươc lúc Người lên đường. Bởi vì, trong Tin Mừng Maccô, cuộc Thụ Khổ khởi sự liền sau trang này. Lạy Chúa, Chúa nhấn mạnh, Chúa yêu cầu chúng con luôn luôn sống tỉnh thức “Tỉnh thức”. Khi sắp tới vườn Ghétsêmani. Chúa thấu biết không một môn đệ nào của Chúa đứng vững. Thế nên, Chúa cố đề phòng cho họ: Anh em phải tỉnh thức, tỉnh thức, tỉnh thức!

Lạy Chúa, xin hãy lặp lại cho chúng con lời căn dặn như thế.

“Anh em phải coi chừng”. Đức Giêsu thường sử dụng từ này trong một bối cảnh cuộc “giao chiến”. Tình thức là để giao chiên. Tỉnh thức là chú ý đặc biệt, trong trường hợp nguy hiểm. Cần phải “coi chừng” để nghe lời Chúa (Mc 4,12), nếu không ta chỉ đứng bên lề mà để cho lời Chúa vuột qua. Cần phải “ coi chừng”, để ta giữ mình khỏi “men Pharisêu”, nếu không nó thấm nhiễn vào ta mà khong hay biết (Mc 8,15-12,38). Cần phải “coi chừng”, để không tin những kẻ báo trước tương lai, như thể họ nắm vững (Mc 13,5-13).

Thánh Phaolo sẽ sử dụng một thứ ngôn ngữ bi thiết để nói về thái độ tỉnh thức. Ngài đòi hỏi “thức dậy ngay” (Rm 13,11). Chính vì chúng ta đều dễ bị đờ đẫn nên cần phải nghĩ tình trạng mê mẩn sẽ xảy đến, khi ta lạm dụng nhiều thuốc ngủ. Đúng vậy, ta phải coi chừng trước tình trạng mê ngủ của lương tâm: Phản ứng tự vệ không còn hoạt động nữa… cũng như người lái xe vì uống quá nhiều, chỉ còn biết đâm đầu vào vật chắn cản. Như thế cần phải “dứt mình” ra khỏi tình trạng mê ngủ! Hơn nữa, để nói về thái độ “tỉnh thức”. Phaolô không ngần ngại sử dụng đến từ vựng về chiến tranh: Những “vũ khí” trang bị cho thái độ tỉnh thức (Rm 13,12; Ep 6,10; 1 Tx 5,6-8).

Lạy Chúa Giêsu. Hôm nay, xin hãy lặp lại cho con “phải coi chừng”. Đời sống Kitô hữu luôn là cuộc giao chiến với những quyền lực, xem ra mãnh liệt hơn chúng con. Lạy Chúa xin giữ gìn chúng con biết tỉnh thức, cho giờ Chúa xuất hiện.

Vì anh em không biết khi nào ngày giờ ấy đến…

Môn đệ của Chúa Giêsu đặt cho Ngài câu hỏi: “Bao giờ các sự việc ấy xảy ra, và khi tất cả sắp đến tận cùng thì có điềm gì báo trước?” (Mc 13,4). Đức Giêsu không trả lời câu hỏi này. Các sấm ngôn đủ loại và thuộc mọi thời đại, đã báo trước ngày thế mạt cả rồi! Ở đây, Ngài trả lời một lần dứt khoát: “Anh không biết được bao giờ”. Đức Giêsu không muốn ta mất giờ mơ tưởng về quá khứ hay tương lai. Ngài đòi hỏi chúng ta phải tập trung vào “giây phút hiện tại”, vào chính ngày Hôm nay: Vậy anh em hãy tỉnh thức, vì anh em không biết… Anh em hãy luôn sẵn sàng.

Cha Charles de Foucault đã coi lời sau đây như châm ngôn sống: “Cố sống mỗi ngày, như thể chiều tối nay bạn sẽ chết”.

Cũng như người kia trẩy phương xa, để nhà lại giao trách nhiệm cho đầy tớ trông coi, chỉ định cho mỗi người một việc…

Thiên Chúa xem ra “vắng mặt”, như thể người kia trẩy phương xa! Đây là hình ảnh đẹp, diễn tả chọn vẹn cảm tình mà ta thường nghiện thấy: Lạy Chúa, sao Chúa ở xa quá! Chúa như là kẻ hoàn toàn khác lạ! Nhưng ta nên lưu ý, đối với Đức Giêsu, thời gian vắng mặt nêu trên, trước hết không phải là thời gian bất hạnh hay âu lo, nhưng là một thời mang đầy trách nhiệm: Mỗi người đều nhận một phận vụ, một công việc. Hầu như ta có cảm tưởng rằng ông “Chủ” này cố ý đi xa, để tạo cho các đầy tớ ông, một tầm quan trọng, để họ khỏi phải lúc nào cũng ám ảnh tới ông: Nào, hãy đảm nhận lấy trách nhiệm. Các bạn đâu còn là trẻ con nữa. Hãy quyết định, hãy suy nghĩ. Tôi tin tưởng các bạn … Tôi giao cho các bạn “mọi quyền hành”! Lạy Chúa xin giúp chúng con sống xứng đáng với trách nhiệm đã được Chúa giao phó: Trong gia đình, trong phạm vi nghề nghiệp, nơi khu phố, trong đoàn thể này hay hiệp hội kia trong Giáo Hội.

Ông ra lệnh cho người giữ cửa canh thức …

Ban đêm, người giữ của có một tầm quan trọng đặc biệt, bởi vì bổn phận của ông là phải nghiêm chỉnh “canh thức”, đề phòng để ngôi nhà khỏi bị tấn công bất ngờ, không mở cửa cho bất cứ ai nhưng lại là người đầu tiên mở cửa đón tiếp ông chủ khi ông trở về. Thánh Maccô quen đề cao vai trò của Phêrô trong nhóm Mười Hai. Khi phân biệt được người giữ của với các đầy tớ khác, Đức Giêsu muốn lưu ý rằng, các vị chủ chăn trong Giáo Hội được mời gọi một cách hết sức đặc biệt phải “tỉnh thức”: Phêrô vị Giáo Hoàng, các Giám mục là những người đầu tiên có trách nhiệm tỉnh thức đối với toàn thể dân Chúa, cũng như người giữ cửa có bổn phận chăm sóc toàn thể ngôi nhà này. Lạy Chúa, con cầu xin Chúa cho những vị đang nắm giữ vai trò đó trong Giáo Hội hôm nay.

Vậy anh em hãy tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến.

Đức Giêsu đã nói đến thời gian vắng mặt … Ngài cũng loan báo thời gian trở lại … Chúng ta sẽ đi tới cuộc gặp gỡ này. Một ngày kia con sẽ gặp gỡ Chúa, mặt đối mặt và con sẽ thực sự nhận biết Chúa, như Chúa biết con (1Cr 13,12). Cuộc đời Kitô hữu là một hành trình tiến tới cuộc gặp gỡ đó.

Ông chủ sẽ trở về … vào lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng.

Thật là kỳ lạ khi ta nhận thấy Đức Giêsu chi gợi lên một cuộc trở về vào lúc đêm khuya! Thế mà tại Đông phương xưa kia, vì sợ nguy hiểm trên đường đi, người ta thường không du hành vào ban đêm. Chi tiết hơi kỳ di trên đây, mang một ý nghĩa biểu tượng, Kinh Thánh thường nhắc đi nhắc lại. Đêm khuya, đó là thời gian của bóng tối, thời gian của “quyền lực tối tăm” (Lc 22,23; Mc 14,49; Ep 6,12). Do đó đêm tối cũng chính là thời gian của cám dỗ, thời gian của thử thách. Vì thế phải đặc biệt tỉnh thức lúc đêm khuya. Cựu Ước mong đợi thời của Đấng Thiên sai như giai đoạn mà bóng tối sẽ chấm dứt, để nhừng lại chỗ cho ánh sáng. Để diễn tả nỗi lòng mong ước, ngôn sứ đã cất tiếng nói: “Hỡi người canh thức, đêm còn mấy chốc nữa?” (Is 21,11). Và để tăng cường niềm hy vọng, Thánh Phaolô đã nói: “Đêm sắp tàn, ngày gấn đến” (Rm 13,12). Để loan báo Noen, vào thánh lễ nửa đêm, Giáo Hội hát lên cho chúng ta bài thơ tuyệt diệu của I-sai-a (9,1). “Dân đi trong tăm tối đa thấy bừng lên một luồng sáng lớn”. Và trong mùa vọng, ta vẫn thường ca lên: các dân tộc bước đi trong đêm dài, những ngày sắp tới … Đây là lúc hãy ngẩng đầu lên!

Hãy tỉnh thức trong đêm tối. Hãy tỉnh thức trong những khó khăn … Hãy nắm giữ hy vọng, ngay cả khi ta ở trong đêm đêm đen … Hãy đứng vững, khi mọi sự như sụp đổ. Như một bình minh mới đang xuất hiện trong đêm tối đời ta. Thiên Chúa sắp đến để cứu độ dân Người. Chính nhờ đêm tối ta dễ tin vào ánh sáng. Đề tài này Gioan Thánh Giá rút ra được một xác quyết: Thiên Chúa vẫn có đó là nguồn tín nhiệm, hiện diện mãi mãi, nhưng vẫn còn là đêm tối.

Lúc gà gáy …

Maccô, thư ký riêng của Phêrô đã đưa ra một so sánh tực tiếp. Ngay trước khi chịu khổ hình, trước lúc vào vừơn Ghét-sê-ma-ni, nơi Phêrô sẽ ngủ thay vì phải tỉnh thức trước khi bước vào đêm bi thảm mà tiếng gà sẽ nhắc cho Phêrô biết mình thiếu tỉnh thức (Mc 14,72), thì Đức Giêsu nói cho “người giữ cửa” của Giáo Hội cần phải tỉnh thức. Nhưng ta biết, ông thiếu thái độ đó. Ôi! lúc gà gáy, Phêrô mới nhận ra tôi lỗi và sự chối bỏ của mình! Điều đó cho ta nhận ra rằng, Giáo Hội cũng mang tính nhân loại biết bao! Và điều đó mời gọi ta không nên thất vọng trước những yêu đuối của Giáo Hội.

Ông chủ có thể đến bất thần …

Thiên Chúa luôn đến bất thần, không ngờ, đột ngột! Hầu như có thể nói được rằng, đó là dâu hiệu của Thiên Chúa đích thực: Đấng hoàn toàn khác lạ! Mỗi lần ta tưởng mình đã xác định phạm vi của Thiên Chúa, thấu hiểu và đặt nhãn hiệu cho Người, chắc chắn là ta đã lầm lẫn về Thiên Chúa, đã lấy ước muốn ta làm thực tại. Lạy Chúa, xin giúp con biết mở rộng tâm trí đón nhận sự mới mẻ trong cách Chúa hiện diện. Xin giữ gìn chúng con luôn sẵn sàng trước việc Chúa đến viếng thăm cách bất ngờ.

Bắt gặp anh em đang ngủ.

Trước Thiên Chúa, ta vẫn thường mê ngủ … nên dễ sửng sốt. Cần phải thoát ra tình trạng mê ngủ thiêng liêng, lờ đờ đó. Cần phải nỗ lực tự tạo một lối sống linh hoạt, cương nghị, thay vì buông xuôi tới ù lì, mê ngủ. Lạy Chúa, xin giữ chúng con trong tình trạng tỉnh táo, luôn tỉnh thức.

Thầy nói với hết thảy mọi người là: Phải canh thức.

Đối với Đức Giêsu, sự “hiện diện” của Chúa vẫn ở đó, giữa các biến cố ta đang sống. Lạy Chúa xin giúp chúng con tỉnh thức, chú ý nhận ra sự hiện diện của Chúa. Xin giài thoát chúng con khỏi tình trạng mê ngủ, khô nhạt, dễ làm chúng con không nhận ra Chúa vẫn thường xuyên đến viếng thăm. Mùa vọng bắt đầu! Đây là thời gian “canh thức”…

MỤC LỤC

 

Bài 5. PHẢI TỈNH THỨC LUÔN

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Tôi mới xức dầu và cử hành lễ an táng cho một người ở một khu kinh tế mới.Đúng là kỳ diệu.Đúng là có bàn tay Chúa bởi vì ông Thinh đã có vợ và cả hai ông bà đã sinh được ba cậu con trai tốt lành.Ông đã có dâu và một đứa cháu nội.Thế nhưng hai ông bà đã bỏ nhau 21 năm. Bà lại đi với nguồi khác.Thế rồi, người chồng không hôn thú của chị vợ ông Thinh bỗng dưng chia tay với chị.Còn ông Thinh, Chúa gửi cho ông một căn bệnh nan y.Trong cơn hấp hối, ông muốn gặp lại chị Thinh và trong những giây phút cuối cùng,ông đã tha thứ cho vợ tất cả. Ông còn rất tỉnh, tỉnh như năm cô trinh nữ mang đèn mà còn mang dầu dự trữ theo. Cuộc đời của con người là một cuộc đợi chờ, đợi chờ trong tỉnh thức, đợi chờ trong niềm tin, hy vọng…

Cuộc đời con người là một sự đợi chờ liên lỉ. Ai mà chẳng đợi chờ. Có những việc đợi chờ làm con người sốt ruột, nôn nao, căng thẳng. Có những sự đợi chờ làm con người vui tươi, hạnh phúc như chờ đợi kết quả cuộc thi mà ta nắm chắc đậu một trăm phần trăm hay chờ đợi mẹ đi chợ về mua quà, mua đồ chơi cho ta. Tất cả đời người đều là một cuộc đợi chờ : đợi chờ trong hy vọng, đợi chờ trong niềm tin và đợi chờ trong thất vọng ê chề. Mùa vọng là mùa đợi chờ. Các Kitô hữu hướng về niềm vui gần mong đợi ngày giáng sinh, ngày Chúa đã đến để khai mở Nước Thiên Chúa và hướng về ngày cùng tận, ngày cánh chung, Chúa sẽ đến để phán xét kẻ lành kẻ dữ.

Tin Mừng thánh Marcô căn dặn : “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến”. Chúa lay tỉnh con người, Chúa nói với con người phải tỉnh thức. Ở đây, tỉnh thức có nghĩa là mau mắn, sẵn sàng, không được thụ động ngủ vùi. Thái độ tỉnh thức phải là thái độ của năm cô trinh nữ khôn ngoan, mang đèn nhưng còn cẩn thận mang cả dầu nữa… Tỉnh thức như người đầy tớ thức trắng đêm vì ông chủ trở về bất ngờ. Tỉnh thức làm lợi như người được chủ giao 5 nén, 2 nén và 01 nén. Tỉnh thức như cụ già trong một câu chuyện : “Hằng ngày ông cụ cứ ngồi trên xích đu mà chờ Chúa đến”. Chúa đến đột xuất, bí mật, bất ngờ nên Kitô hữu luôn phải có thái độ sẵn sàng để đón chờ Chúa đến. Trong bài đọc I, ngôn sứ Isaia cầu khẩn, van nài cùng Thiên Chúa : “Vì tình thương… xin Ngài mau trở lại. Phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống”. Đây là ước mong, là khát vọng của mọi người. Con người, loài người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, nên con người mong chờ ơn cứu chuộc của Chúa. Bài đọc II, thánh Phaolô đã cảm tạ Chúa vì Chúa thương ban cho cộng đoàn Corintô dồi dào ơn Chúa trong khi mong chờ Chúa Kitô tái giáng lâm, và thánh Phaolô cũng khuyên nhủ họ tiếp tục sống tốt, tuân theo lời Chúa để khỏi bị Chúa khiển trách khi Chúa Kitô lại đến. Do đó, Tin Mừng hôm nay kêu mời con người phải có thái độ tích cực tỉnh thức, nghĩa là phải trở về với lòng mình, phải trở về với Chúa để gặp Ngài và luôn phải bám chặt lấy Ngài.

Chờ đợi Chúa không có nghĩa là cứ đọc dăm câu kinh hay đi nhà thờ cho có lệ là đủ rồi, là nắm chắc phần thắng Nước Trời thuộc về mình. Ngôn sứ Isaia kêu mời những con người tội lỗi hãy mạnh dạn quay về với Thiên Chúa bởi vì chính vị ngôn sứ đã níu chặt lấy Chúa, van nài Chúa tha thứ lỗi lầm cho dân. Tỉnh thức ở đây không có nghĩa là khi chủ về thì họ đã mệt mỏi, nên li bì ngủ tiếp. Tỉnh thức ở đây là người tín hữu phải dọn mình xứng đáng để chờ gặp Chúa. Quả thực, Chúa đã đến và Chúa đang ở giữa nhân loại, ở giữa chúng con, hằng giây hằng phút Chúa hằng mong muốn đến với chúng con và ở với chúng con kia mà. Vấn đề của chúng con, của người môn đệ Chúa có chuẩn bị đón tiếp Chúa, có sẵn sàng để Chúa ở với mình hay không? Chỉ có một cách chờ đợi tốt nhất là tỉnh thức và cầu nguyện. Điều làm người môn đệ xa Chúa là không ý thức, không chuẩn bị, ngủ mê trong những ích kỷ, ươn hèn, lười biếng của mình bởi vì người môn đệ, loài người quá yêu mình đến nỗi đã quên Chúa, đã mất ý thức về Chúa.

Để chờ đợi Chúa đến, các Kitô hữu phải có tâm tình thống hối thật sự, phải biết biến đổi nội tâm, tái Phúc Âm tâm hồn và biết làm những việc tốt đẹp theo con đường của Chúa. Người mộn đệ Chúa phải biết đọc ra những dấu chỉ của thời đại, phải biết nhận diện Chúa trong từng phút giây của cuộc sống, nhận rõ Chúa vì chỉ có Chúa mới là nguồn sống, là thuẫn đỡ chở che, là gia nghiệp đời đời của con người. Nhận rõ Chúa cũng có nghĩa là từ bỏ con người xấu xa tội lỗi để mặc lấy Chúa Kitô và như thánh Phaolô : “Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi”. Nhận ra Chúa là biết từ bỏ những dục vọng, những ham mê, những ham muốn bất chính, những tham lam mù quáng lôi kéo con người xa Chúa.

Nhiều Kitô hữu được rửa tội nhưng lại không hiểu biết giáo lý sâu xa, không hiểu thế nào là Đạo, thế nào là Chúa. Chính vì thế, họ thiếu tỉnh thức và cầu nguyện. Họ luôn chạy theo những trào lưu mới của thời đại, đặc biệt thế giới đang đi tới chỗ toàn cầu hóa, con người dễ chạy theo lợi nhuận, chạy theo tiền bạc, vật chất mà quên mất Chúa. Con người chỉ có thể gặp Chúa khi họ sẵn sàng tỉnh thức như năm cô trinh nữ khôn ngoan và như nguời khôn xây nhà trên đá.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết từ bỏ những gì là không đẹp lòng Chúa để chúng con càng ngày càng trở nên xứng đáng hơn hầu sẵn sàng đón Chúa ngự vào đền thờ tâm hồn chúng con. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

  1. Tại sao lại phải tỉnh thức ?
  2. Chúng ta có biết trước giờ chết không ?
  3. Giờ Chúa đến là giờ nào ?
  4. Tại sao lại phải canh thức như lính canh trông đợi hừng Đông ?
  5. Tại sao phải dọn tâm hồn để đón Chúa ? 

MỤC LỤC

Bài 6. Thái độ mong chờ Chúa đến

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Kính thưa cộng đoàn,

Chúng ta bước vào Mùa Vọng, hay còn gọi là mùa Ad. Mùa Vọng, nguyên nghĩa tiếng Latin là Adventus, (có nghĩa là đến, quang lâm). Thời thánh Giáo hoàng Grêgôriô I, thời gian chuẩn bị đón chờ Chúa đến trước lễ Giáng Sinh kéo dài bốn tuần được gọi là Mùa Vọng.

Hỏi : Chúa đã đến chưa ? Chúng ta phải khẳng định với nhau rằng : Chúa đã đến rồi. Vậy chúng ta còn mong chờ Chúa nào nữa?

Mùa Vọng Giáo hội đang sống là sống với hai chiều kích : một là tưởng niệm biến cố Nhập thể làm người của Đức Giêsu Con Thiên Chúa khi Ngài sinh bởi Ðức Trinh Mữ Maria ; hai là chờ đợi Chúa trở lại trong vinh quang để “phán xét kẻ sống và người chết”, như chúng ta vẫn đọc trong kinh Tin Kính. Đó là lý do chữ “chờ đợi” được người ta nhắc nhiều đến trong Mùa Vọng. Các lễ nghi cử hành Phụng vụ trong Mùa Vọng, từ màu sắc, các bài đọc, các bài thánh ca đều diễn tả niềm hy vọng với lời cầu xin tha thiết : « Maranatha – Ngài ơi hãy đến, Ngài đến mau đi », và hơn thế nữa dân Do Thái kêu van : « Xin Ngài xé tầng trời mà ngự xuống ».

Vì sống cả hai chiều kích, nên người kitô hữu phải mang tâm tình của dân Cựu Ước và của chính mình ngày hôm nay.

Mùa Vọng trong Kinh Thánh

Các bài đọc Thánh lễ trong Mùa Vọng làm chúng ta nhớ đến sự mong chờ Đấng Cứu Thế đến của Dân Do Thái, Đấng mà ngôn sứ đã loan báo : “Từ gốc tổ Giêsê, sẽ đâm ra một nhánh nhỏ, từ cội rễ ấy, sẽ mọc lên một mầm non. Thần khí Ðức Chúa sẽ ngự trên vị này:thần khí khôn ngoan và minh mẫn, thần khí mưu lược và dũng mãnh, thần khí hiểu biết và kính sợ Ðức Chúa. Lòng kính sợ Ðức Chúa làm cho Người hứng thú, Người sẽ không xét xử theo dáng vẻ bên ngoài, cũng không phán quyết theo lời kẻ khác nói, nhưng xét xử công minh cho người thấp cổ bé miệng, và phán quyết vô tư bênh kẻ nghèo trong xứ sở…” (Is 11, 1-10).

Phụng vụ Lời Chúa trong Mùa Vọng cũng nhắc lại việc Đức Maria cưu mang và sinh hạ Đấng Cứu Thế : thiên thần Gabriel hiện ra với Đức Maria và báo cho Mẹ biết rằng : “Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Ðức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Ðavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận (…) Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Ðấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, người con sinh ra sẽ là thánh, và được gọi là Con Thiên Chúa.” (Lc 1, 26-38)

Gioan Tẩy Giả, con trai của Êlisabét và là anh em họ với Chúa Giêsu, xuất hiện trước để loan báo việc Con Thiên Chúa đến, kêu gọi mọi người hoán cải và rao giảng rằng : “Có Ðấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. Tôi đã làm phép rửa cho anh em nhờ nước; còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần” (Mc 1, 1.8 và Ga 1, 19.28)

Như thế, Mùa Vọng kêu gọi người kitô hữu cải hóa nội tâm. Những việc cử hành thánh thường xuyên nhắc nhở chúng ta canh tân niềm tin, vững tin vào tương lai và trở lên men giữa lòng thế giới.

Mùa Vọng

Trong lịch phụng vụ Công Giáo, Mùa Vọng kéo dài bốn tuần và mỗi Chúa nhật với tên gọi truyền thống đặc thù của nó gồm những lời đầu tiên của bài thánh ca mở đầu :

- Chúa nhật I Mùa Vọng : Ad Te levavi… (= Con nâng tâm hồn con lên tới Chúa, lạy Chúa… )

- Chúa nhật II Mùa Vọng : Populus Sion … (= Này hỡi Dân Sion…)

- Chúa nhật III Mùa Vọng : Gaudete … (= Anh em hãy vui lên trong niềm vui của Chúa…)

- Chủ nhật IV Mùa Vọng : Rorate … (= Trời cao, hãy đổ sương xuống, và làm mưa Đấng Công Chính...)

Đức Giêsu dạy chúng ta sống Mùa Vọng

Đức Giêsu đã đến rồi, nên chiều kích thứ nhất của Mùa Vọng nhắc lại cho chúng ta việc Con Chúa đến lần thứ nhất, và tỉnh thức sẵn sàng đón Người tái lâm là chiều kích thứ hai (Mc 13, 33-37).

Lời Chúa nói với các môn đệ : “Các con hãy coi chừng, hãy tỉnh thức và cầu nguyện, vì các con không biết lúc đó là lúc nào” (Mc 13, 33), cũng nói với chúng ta : “Điều Ta bảo cho các con, thì Ta bảo cho tất cả mọi người là: Hãy tỉnh thức!” (Mc 13 37). Chúa mách bảo chúng ta phải luôn trong tư thế của người được chủ : “đi phương xa, để nhà cửa lại, trao quyền hành … và căn dặn …lo tỉnh thức” (Mc 13, 34). Vì chủ về bất ngờ nên “coi chừng và tỉnh thức” là thượng sách.

Chẳng nói đâu xa, năm 2012, người ta đang dự kiến ngày tận thế là ngày 23 tháng 12 tính theo lịch của dân Maya, nhiều người trên thế giới đã lo lắng vì lời đồn đoán ấy, họ đi mua nến, mua dầu, mua mì tôm… Người ta sợ phải lìa bỏ cái thế giới thân yêu này, cho dù nó vẫn còn nhiều khổ não. Trong thời đại của chúng ta không thiếu các thiên tai, chiến tranh, bạo lực. Phải chăng đó là dấu hiệu của ngày tận thế?

Chúa Giêsu xác nhận sẽ có ngày tận thế, nhưng không phải để tan biến thành hư vô. Sẽ có những dấu hiệu làm nhiều người hoang mang sợ hãi, nhưng đối với các tín hữu, đó là dấu hiệu vui mừng vì mình sắp được cứu độ. Chúa mời gọi chúng ta : “ Các con hãy tỉnh thức, vì các con không biết lúc nào chủ nhà trở về, hoặc là chiều tối, hoặc là nửa đêm, hoặc là lúc gà gáy, hay ban sáng, kẻo khi ông trở về thình lình, bắt gặp các con đang ngủ” (Mc 13, 35-36).

Năm Phúc Âm hóa gia đình kết thúc, năm Phúc Âm hóa giáo xứ được mở ra. Chuẩn bị lễ Giáng Sinh, mọi người trong giáo xứ tự hỏi: giáo xứ chúng ta đang chờ đợi điều gì? Trong lúc này của đời ta, con tim ta đang hướng về điều gì? Chúng ta có tỉnh thức không? Hãy thức tỉnh và cầu nguyện, để khi Đức Giêsu ngự đến lần thứ hai, Người thấy chúng ta đang tỉnh thức vì đã không uổng công trông đợi.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ “đầy ân sủng”, Mẹ đã đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa trong lòng, xin giúp chúng con sẵn sàng đón Chúa Giêsu Con Mẹ.

Lạy Chúa, “xin Chúa băng qua các tầng trời mà ngự xuống” (Is 63, 19). Amen.

[Mục Lục]

Bài 7. Hãy coi chừng!

Trầm Thiên Thu

Mùa Vọng khởi đầu Năm Phụng Vụ mới, ngày Tết Phụng Vụ của Giáo hội. Ngay từ đầu, Thiên Chúa đã nhắn: “Hãy coi chừng!”. Đó là lời cảnh báo về điều gì đó nghiêm trọng, đặc biệt là điều có thể nguy hại đến tính mạng. Hằng ngày, chúng ta có rất nhiều tứ phải coi chừng, thậm chí từng phút, từng giây. Coi chừng không chỉ về thể lý mà cả về tinh thần và tâm linh – từ điều lớn tới điều nhỏ. Mọi nguy hiểm có thể ập đến bất cứ lúc nào!

Thật vậy, hãy cẩn thận với suy nghĩ, vì nó có thể biến thành lời nói; hãy cẩn thận với lời nói, vì nó có thể biến thành hành động; hãy cẩn thận với hành động, vì nó có thể biến thành thói quen; hãy cẩn thận với thói quen, vì nó có thể biến thành tính cách; hãy cẩn thận với tích cách, vì nó có thể biến thành số phận. Một chuỗi liên kết rất lô-gích!

Chúng ta biết rằng Mùa Vọng là thời gian chuẩn bị mừng đón Con Thiên Chúa giáng sinh làm người. Việc chuẩn bị này được tìm thấy trong sách ghi chép về Công nghị Saragossa, ở Tây Ban Nha năm 380 (sau Công Nguyên). Công hội này tuyên bố các Kitô hữu đã rửa tội nên có mặt ở nhà thờ từ 17/12 đến 25/12, thời gian này không là Mùa Vọng trọn vẹn nhưng là một sự khởi đầu. Các Giáo hội Đông phương bắt đầu cử hành Mùa Vọng từ thế kỷ VIII như thời gian “ăn chay nghiêm nhặt và kiêng khem” – việc thực hành này vẫn phổ biến trong Chính Thống giáo Đông phương (Eastern Orthodoxy). Việc thực hành này cũng phản ánh tính tương tự với Mùa Chay. Màu đỏ là màu phụng vụ của Mùa Vọng trong các Giáo hội Đông phương, còn với Công giáo là màu tím.

Cả cuộc đời chúng ta trên đường lữ hành trần gian là Mùa Vọng kéo dài, luôn phải tỉnh thức, như Thánh Phêrô đã cảnh báo: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5:8). Tỉnh thức là biết mong chờ và sẵn sàng. Tác giả Thánh Vịnh nói: “Hồn tôi trông đợi Chúa Trời, còn hơn lính gác mong trời hừng đông. Bởi Chúa luôn từ ái một niềm, ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa” (Tv 130:6-7).

Trong cuộc sống đời thường, kể cả tinh thần, chúng ta luôn có nhiều mơ ước, và mong chờ kết quả mỹ mãn. Dù chúng ta có đạt được ước vọng cháy bỏng nào đó, rồi cũng qua. Chỉ có Thiên Chúa mới là niềm vui trọn vẹn và vĩnh cửu. Ngôn sứ Isaia đã kêu lên: “Quả chính Ngài là Cha chúng con! Chúng con không được ông Áp-ra-ham biết đến, không được ông Ít-ra-en nhìn nhận, còn Ngài, lạy Đức Chúa, Ngài mới là Cha, là Đấng cứu chuộc chúng con: đó là danh Ngài từ muôn thuở. Lạy Đức Chúa, tại sao Ngài lại để chúng con lạc xa đường lối Ngài? Tại sao Ngài làm cho lòng chúng con ra chai đá, chẳng còn biết kính sợ Ngài? Vì tình thương đối với tôi tớ là các chi tộc thuộc gia nghiệp của Ngài, xin Ngài mau trở lại” (Is 63:16-17).

Hai người yêu nhau không muốn xa nhau một khoảnh khắc nào, xa nhau một ngày mà cứ tưởng lâu lắm. Đứa bé không muốn rời tay mẹ dù chỉ trong chốc lát, vắng mẹ một lúc thì đứa bé đã khóc. Còn với Thiên Chúa, chúng ta còn cần Ngài hơn như vậy, nhất là những khi chúng ta bất xứng: “Từ lâu rồi, chúng con là những kẻ không còn được Ngài cai trị, không còn được cầu khẩn danh Ngài. Phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống, cho núi non rung chuyển trước Thánh Nhan” (Is 63:19).

Thiên Chúa xuất hiện khiến mọi thứ biến đổi: “Khi thấy Ngài làm những điều kinh hồn táng đởm mà chúng con không ngờ: Ngài ngự xuống: và núi non rung chuyển trước Thánh Nhan! Người ta chưa nghe nói đến bao giờ, tai chưa hề nghe, mắt chưa hề thấy có vị thần nào, ngoài Chúa ra, đã hành động như thế đối với ai tin cậy nơi mình” (Is 64:2-3). Thiên Chúa quá đỗi kỳ diệu, vô hình mà hiện hữu, hữu hình mà không thể nhìn thấy. Cách hành động của Ngài cũng không thể dự đoán. Có những điều trái ngược ý muốn của chúng ta nhưng thực sự là Ý Chúa, vì Ngài biết trước mọi sự và Ngài thực hiện để cho chúng ta được ích lợi nhất.

Sách Isaia cho biết: “Ngài đón gặp kẻ sống đời công chính mà lấy làm vui và nhớ đến Ngài khi theo đường lối Ngài chỉ dạy. Kìa, Ngài phẫn nộ vì tội lỗi chúng con, nhưng khi mải đi theo các đường lối của Ngài, chúng con sẽ được cứu thoát. Tất cả chúng con đã trở nên như người nhiễm uế, mọi việc lành của chúng con khác nào chiếc áo dơ. Tất cả chúng con héo tàn như lá úa, và tội ác chúng con đã phạm, tựa cơn gió, cuốn chúng con đi.6 Không có ai cầu khẩn danh Chúa, cũng chẳng ai tỉnh dậy mà níu lấy Ngài, vì Ngài đã ngoảnh mặt không nhìn đến, và để cho tội ác chúng con phạm mặc sức hành hạ chúng con” (Is 64:2-6). Thiên Chúa có phương pháp giáo dục rất độc đáo, khác hẳn kiểu của phàm nhân. Ngài không chỉ vẽ cặn kẽ theo kiểu “nói toạc móng heo”, nhưng khéo léo làm cho chúng ta “sáng mắt” bằng cách để chúng ta tự ý thức mà tự nguyện đón nhận Ngài. Thế đấy! Tại sao? Kinh Thánh mách nước” cho chúng ta biết: “Ngài là Cha chúng con; chúng con là đất sét, còn thợ gốm là Ngài, chính tay Ngài đã làm ra tất cả chúng con” (Is 64:2-7). Quả thật, Thiên Chúa là Nghệ Sĩ siêu phi thường!

Chắc chắn không có niềm khao khát mong chờ bằng khao khát Thiên Chúa. Mùa Vọng nhắc nhở chúng ta về niềm khao khát cháy bỏng: “Lạy Mục Tử nhà Ít-ra-en, Ngài là Đấngchăn giữ nhà Giuse như chăn giữ chiên cừu, xin hãy lắng tai nghe! Ngài là Đấng ngự trên các thần hộ giá, xin giãi sáng hiển linh cho dòng dõi Ép-ra-im, Ben-gia-min và Mơ-na-se được thấy. Xin khơi dậy uy dũng của Ngài, đến cùng chúng con và thương cứu độ” (Tv 80:2-3).

Thiên Chúa là Đấng siêu phàm, vắng Ngài chỉ trong tích tắc là chúng ta tiêu tan ngay:“Chúa ẩn mặt đi, chúng rụng rời kinh hãi; lấy sinh khí lại, là chúng tắt thở ngay, mà trở về cát bụi. Sinh khí của Ngài, Ngài gửi tới, là chúng được dựng nên” (Tv 104:29-30). Biết chắc như vậy, tác giả Thánh Vịnh luôn mong chờ Thiên Chúa đến và luôn tha thiết cầu xin:“Lạy Chúa Tể càn khôn, xin trở lại, tự cõi trời, xin ngó xuống mà xem, xin Ngài thăm nom vườn nho cũ, bảo vệ cây tay hữu Chúa đã trồng, và chồi non được Ngài ban sức mạnh” (Tv 80:15-16).

Cá lớn nuốt cá bé, cuộc đời cũng luôn có những điều bất công, chỉ khổ cho những người ngước đầu không nổi vì thấp cổ, la lớn không nổi vì bé miệng, có la khàn giọng cũng chẳng ai thèm nghe. Không chỉ vậy, họ còn bị những người có quyền lực đè đầu, bóp cổ và bịt miệng. Họ bị tước mất quyền căn bản nhất của con người: Quyền sống. Và họ chỉ còn biết trông cậy vào Thiên Chúa: “Xin giơ tay bênh vực Đấng đang ngồi bên hữu là con người được Chúa ban sức mạnh. Chúng con nguyền chẳng xa Chúa nữa đâu, cúi xin Ngài ban cho được sống, để chúng con xưng tụng danh Ngài” (Tv 80:18-19).

Chúng ta cũng đã từng bị như vậy, cách này hoặc cách khác, cả đời lẫn đạo. Đặc biệt là chúng ta bị thế lực bóng tối ma quỷ chèn ép. Thánh Phaolô bày tỏ với cộng đoàn Côrintô:“Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giêsu Kitô ban cho anh em ân sủng và bình an. Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em, về ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Đức Kitô Giêsu” (1 Cr 1:3-4).

Thánh Phaolô không chỉ nói đến khoảng mong chờ của Mùa Vọng, mà mạnh mẽ đề cập cuộc tái lâm của Thiên Vương Giêsu Kitô: “Quả vậy, trong Đức Kitô Giêsu, anh em đã trở nên phong phú về mọi phương diện, phong phú vì được nghe lời Chúa và hiểu biết mầu nhiệm của Người. Thật thế, lời chứng về Đức Kitô đã ăn sâu vững chắc vào lòng trí anh em, khiến anh em không thiếu một ân huệ nào, trong lúc mong đợi ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mặc khải vinh quang của Người. Chính Người sẽ làm cho anh em nên vững chắc đến cùng, nhờ thế không ai có thể trách cứ được anh em trong Ngày của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô. Thiên Chúa là Đấng trung thành, Người đã kêu gọi anh em đến hiệp thông với Con của Người là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (1 Cr 1:6-9).

Ngày đó không ai biết lúc nào, thuộc tương lai xa hay gần, vì thế mà chúng ta phải luôn canh thức và trông mong, tức là phải luôn “coi chừng” – coi chừng tiên tri giả, coi chừng những kẻ lừa bịp, coi chừng những tà thuyết, coi chừng những kẻ phản Kitô, coi chừng các tin đồn nhảm, cẩn thận với các “sự lạ”,… Đúng như tiền nhân nói: “Cẩn tắc vô ưu”. Đồng thời chúng ta phải quyết tâm: “Dù ai nói ngả nói nghiêng, tôi đây vẫn vững như kiềng ba chân”. Hãy vững tin vào những điều Chúa Giêsu đã dạy!

Trình thuật Tin Mừng theo Thánh Mác-cô ngắn gọn nhưng súc tích. Chúa Giêsu mạnh mẽ cảnh báo: “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến” (Mc 13:33). Ngài dùng hình ảnh cụ thể đời thường: “Cũng như người kia trẩy phương xa, để nhà lại, trao quyền cho các đầy tớ của mình, chỉ định cho mỗi người một việc, và ra lệnh cho người giữ cửa phải canh thức” (Mc 13:34). Rồi Ngài căn dặn: “Vậy anh em phảicanh thức, vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến: Lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng. Anh em phải canh thức, kẻo lỡ ra ông chủ đến bất thần, bắt gặp anh em đang ngủ. Điều Thầy nói với anh em đây, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là: phải canh thức!” (Mc 13:35-37).

Chỉ một đoạn văn ngắn mà có tới 4 từ “canh thức”, 1 từ “coi chừng” và 1 từ “tỉnh thức”. Tất cả đều ở thể mệnh lệnh cách: PHẢI. Điều đó cho thấy sự cấp bách của việc tỉnh thức mong chờ Đức Giêsu Kitô. Lá vàng hoặc xanh cũng có thể rụng bất cứ lúc nào. Thời gian rụng cũng không ai biết: Sáng sớm, trưa, chiều, tối, khuya hoặc nửa đêm về sáng. Thực tế này quá rõ ràng, ai cũng biết.

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết tỉnh thức mà mong chờ Ngài đến bất cứ lúc nào. Xin canh giữ chúng con trước mọi mánh khóe của cuộc đời này. Lạy Ngôi Hai Thiên Chúa, xin mau đến giải thoát chúng con. Người là Đấng hằng sinh và hiển trị cùng với Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.

[Mục Lục]

Bài 8. PHẢI CHI NGÀI XÉ TRỜI MÀ XUỐNG…

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

  1. DẪN VÀO PHỤNG VỤ

Hôm nay, chúng ta bước vào Mùa Vọng Năm B. Ý nghĩa và mục đích của Mùa Vọng là các Ki-tô hữu chuẩn bị tâm hồn đón mừng Thiên Chúa xuống thế làm người cứu độ nhân loại. Thật ra Thiên Chúa đã đến với nhân loại từ rất lâu rồi. Và Người luôn ở rất gần chúng ta, ở giữa chúng ta; nhưng có nhiều lúc chúng ta phải kêu lên như ngôn sứ I-sai-a: “Phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống, cho núi non rung chuyển trước Thánh Nhan” vì chung quanh chúng ta đầy dẫy những bất công, áp bức, tội ác và nghèo khổ và chúng ta không cảm nhận được sự hiện diện và can thiệp của Người.

Các bài Thánh Kinh hôm nay mời gọi chúng ta củng cố lòng tin vào Thiên Chúa và tăng cường sự thức tỉnh và nhẫn nại trông đợi sự can thiệp của Thiên Chúa vì Người là Đấng trung thành.

  1. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI SÁCH THÁNH

2.1 Trong bài đọc 1 (Is 63,16b-17.19b; 64,2b-7): Phải chi Chúa xé trời mà ngự xuống.

2.2 Trong bài đọc 2 (2 Cr 1,3-9): Chúng ta mong đợi ngày Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, mạc khải vinh quang của Người.

2.3 Trong bài Tin Mừng (Mc 13,33-37): Anh em phải canh thức: anh em không biết khi nào chủ nhà đến.

III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG VÀ SỨ ĐIỆP CỦA THIÊN CHÚA TRONG BA BÀI SÁCH THÁNH

3.1 Chân Dung của Thiên Chúa (Thiên Chúa là Đấng nào?): Trong 3 Bài Sách Thánh hôm nay chứa đựng 3 cuộc khám phá và mạc khải về Thiên Chúa.

- Trước hết là sự khám phá Thiên Chúa của ngôn sứ I-sai-a trong bài đọc 1: Thiên Chúa là Đấng Cứu Chuộc chúng sinh, là Cha và là Đấng dựng nên loài người: Người rất thân thương, gần gũi với con người. Vì thế mà có lúc I-sai-a tỉ tê tâm sự với Thiên Chúa: “Lạy Đức Chúa, Ngài mới là Cha, là Đấng Cứu chuộc chúng con”. Có lúc I-sai-a giận hờn và trách móc Chúa đã để cho dân Ít-ra-en đi sai đường lạc lối và có “lòng chai dạ đá” không biết kính sợ Thiên Chúa: “Tại sao Ngài lại để chúng con lạc xa đường lối Ngài? Tại sao Ngài làm cho lò̀ng chúng con ra chai đá, chẳng biết kính sợ Ngài?”. Nhưng I-sai-a cũng cảm nghiệm được rằng mình có thể hoàn toàn tin cậy, phó thác vào Chúa vì “chưa hề thấy có vị thần nào, ngoài Chúa ra, đã hành động như thế đối với ai tin cậy nơi mình”

- Kế đến là sự khám phá Thiên Chúa của Thánh Phao-lô Tông đồ dân ngoại trong bài đọc 2: Thiên Chúa, vì yêu thương, đã ban mọi ơn lành cho các tín hữu Cô-rin-tô và kêu gọi họ đi vào mối hiệp thông với Con Một Người là Đức Giê-su Ki-tô.

- Sau cùng là Thiên Chúa do Chúa Giê-su mạc khải trong bài Tin Mừng Mác-cô hôm nay: Thiên Chúa là Ông Chủ có kế hoạch, chương trình và đường lối riêng. Ông tín nhiệm gia nhân, đầy tớ mà giao nhà cửa, ruộng vườn, công việc cho mỗi người. Ông có việc phải đi xa nhưng một ngày nào đó Ông sẽ trở lại. Không ai biết được đó là ngày nào, vì Ông sẽ trở lại bất thình lình. Cho nên tốt nhất là các gia nhân, đầy tớ chăm chỉ chu toàn công việc được giao và luôn luôn tỉnh thức: “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào ông chủ đến” 3.2 Giáo Huấn của Thiên Chúa (Thiên Chúa dậy gì hay muốn chúng ta làm gì?) Thiên Chúa là Đấng đã dựng nên chúng ta, là Đấng cứu chuộc và là Cha chúng ta. Người gần gũi với chúng ta và giầu lòng từ bi lân ái nên luôn sẵn sàng nâng đỡ ủi an chúng ta trong những lúc gian truân khốn khó. Nhưng nhiều lúc chúng ta có cảm tưởng là Người vắng bóng. Thật ra Người vẫn luôn có mặt nhưng chưa hành động theo nguyện vọng của chúng ta mà thôi. Giáo huấn hay sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là chúng ta hãy sống tin cậy, phó thác và tỉnh thức ngóng đợi để không bị lỡ mất cơ hội gặp gỡ Thiên Chúa.

  1. SỐNG VỚI THIÊN CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA NGƯỜI

4.1 Sống với Thiên Chúa như con cái sống với cha mẹ, như kẻ thụ ơn sống với Đấng ban ơn, như tạo vật sống với Đấng Tạo Hóa, như môn đệ sống với Thầy, như gia nhân, đầy tớ ngóng đợi chủ của mình trở về.

4.2 Thực thi sứ điệp (hay giáo huấn) của Lời Chúa là chúng ta vững lòng trông cậy, kiên trì và tỉnh thức chờ đợi ngày/giờ Thiên Chúa tỏ mình ra, can thiệp với đời sống cá nhân và cộng đồng xã hội cũng như giáo hội của chúng ta.

  1. CẦU NGUYỆN CHO THẾ GIỚI VÀ HỘI THÁNH

5.1 «Phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống, cho núi non rung chuyển trước Thánh Nhan.»Chúng ta hãy hiệp dâng lời cầu xin cho các quốc gia và các dân tộc đang phải sống trong nghèo đói, chiến tranh, đàn áp để các quốc gia và các dân tộc ấy sớm được tự do, hòa bình và ấm no hạnh phúc.

  1. Chúng ta cùng cầu xin Chúa.

Đ. Xin Chúa nhận lời chúng con.

5.2 «Quả vậy, trong Đức Ki-tô Giê-su, anh em đã trở nên phong phú về mọi phương diện, phong phú vì được nghe lời Chúa và hiểu biết mầu nhiệm của Người.» Chúng ta hãy hiệp dâng lời cầu xin cho mọi thành phần của Hội Thánh Công Giáo, nhất là cho các vị lãnh đạo Dân Chúa, để mọi Ki-tô hữu cảm nghiệm được tình thương bao la của Thiên Chúa dành cho mình, để sống yêu thương và cảm tạ.

5.3 «Thiên Chúa là Đấng trung thành, Người đã kêu gọi anh em đến hiệp thông với Con của Người là Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.» Chúng ta hãy hiệp dâng lời cầu xin cho mọi người và mọi gia đình thuộc giáo xứ chúng ta để mọi người, mọi nhà sống hiệp thông sâu sắc và trung thành với Chúa Giê-su Ki-tô là Con Một Thiên Chúa là Đấng yêu thương và trung thành.

5.4 «Anh em hãy canh thức kẻo lỡ ra ông chủ đến bất thần, bắt gặp anh em đang ngủ.»Chúng ta hãy hiệp dâng lời cầu xin cho những người sống thờ ơ với Thiên Chúa và say mê của cải, danh vọng, chức quyền và lạc thú trần gian để những người ấy sớm hoán cải và thay đổi cách sống, để không bị bất ngờ khi Thiên Chúa xuất hiện.

[Mục Lục]

Bài 9. MÙA LOAN BÁO

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Phụng vụ Giáo hội đã bước vào năm mới với khởi đầu là Mùa Vọng.

Từ Chúa Nhật I mùa vọng đến ngày 16.12, Phụng vụ nói lên niềm mong đợi ngày Chúa đến khi kết thúc thời gian. Tám ngày cuối cùng, trực tiếp nói đến ngày Giáng Sinh.

Mùa Vọng âm vang những lời loan báo mời gọi tỉnh thức và hy vọng.

  1. Mùa Vọng – Mùa loan báo

Mùa vọng là mùa của những lời loan báo. Loan báo Chúa Giêsu sinh ra, loan báo thời gian cứu độ, loan báo ngày trở lại của Chúa Kitô. Những lời loan báo này được công bố rõ ràng trong các bài đọc Sách Thánh ngày Chúa Nhật.

Bài đọc 1, trích trong sách Isaia, đó là những lời tiên tri về Đấng Cứu Thế mà đỉnh cao là Chúa nhật IV, loan báo một trinh nữ sẽ sinh hạ tại Bêlem một Hài Nhi thuộc chi tộc Đavit và Ngài sẽ được gọi là Emmanuel.

Bài Phúc Âm: Chúa nhật I mùa vọng nói lên niềm mong đợi ngày Chúa Kitô trở lại với lời nhắn nhủ : Hãy tỉnh thức; Chúa nhật II, III dành cho Gioan tiền Hô với lời mời gọi : Dọn đường cho Chúa; Chúa nhật IV là Chúa nhật Truyền tin cho Đức Mẹ và Thánh Giuse.

Các bài đọc 2 là các bài Thánh thư Phaolô, Giacôbê, Phêrô, đặc biệt làm cho Mùa Vọng trở thành một mùa loan báo việc Chúa Kitô trở lại lần thứ hai.

  1. Mùa Vọng – Mùa chờ đợi

Mùa Vọng là mùa mong đợi Chúa đến. Từ ngữ “Chúa đến” thường được hiểu bằng bốn cách :

- Chúa đến trong lịch sử nhân loại.

- Chúa đến trong ngày phán xét chung.

- Chúa đến trong giờ chết của mỗi người.

- Chúa đến trong ơn thánh hằng ngày.

Chúa đến lần thứ nhất: Chúa đã làm người trong nghèo hèn và đau khổ. Chúa được sinh hạ tại hang đá Belem. Chúa đến thế gian để trao ban Ơn Cứu Độ cho nhân loại. Ngày nay nhân loại đợi chờ và hân hoan kỷ niệm ngày Chúa Giáng Sinh.

Chúa đến lần thứ hai: Chúa Giêsu sẽ đến thế gian lần thứ hai để hoàn tất công cuộc cứu độ, gọi là Tận Thế hoặc Cánh Chung. Lần này Chúa đến trong vinh quang với tư thế là Vua Thẩm phán để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Không ai biết được ngày đó sẽ xẩy ra khi nào. Chỉ biết chờ đợi trong hy vọng.

Chúa đến giữa hai lần: Chúa đến với từng người. Đó là giờ chết. Không ai biết được Chúa gọi mình lúc nào và ở đâu. Không ai có thể chọn cho mình ngày giờ ra đi. Lần giữa này là lần thật quan trọng với từng người.

Chúa đến trong ơn thánh: Hàng ngày Chúa đến với ta trong ơn thánh qua các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể.

Mùa Vọng chính là mùa sốt sắng và hân hoan mong đợi Chúa đến.

  1. Mùa Vọng – Mùa tỉnh thức

Chúa Giêsu nói đến tư thế của người tỉnh thức là luôn: “đứng thẳng và ngẩng đầu lên”. Chúa cũng nói đến thái độ sống của người tỉnh thức là không để “ lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời”, không quá mê mẩn những đam mê hưởng thụ, không quá mê say danh lợi thú.

- Đứng thẳng: đây là động thái hiên ngang dũng cảm vượt trên mọi đam mê tội lỗi. Đứng thẳng mới khỏi sa chước cám dỗ và những lôi cuốn mời mọc hấp dẫn trong cuộc đời.

- Ngẩng đầu lên: đây là động thái hướng thượng, vươn mình lên tới những giá trị cao cả.

Chúng ta sống cuộc đời hiện tại trong tinh thần tỉnh thức. Tại các ngã ba ngã tư của đường phố đều có đèn đỏ đèn xanh rõ ràng, nhắc hướng cần đi vào và cấm vượt ranh giới. Trong lương tâm, chúng ta không thấy rõ hệ thống đèn đỏ đèn xanh. Mình phải tự phán đoán, chọn lựa. Không tỉnh thức là đôi khi mình tự cho phép mình vượt đèn đỏ vô hình, và cũng không đi theo hướng đèn xanh chỉ dẫn. Vài lần thấy quen. Rồi thấy xung quanh vô số người cũng làm như vậy. Thế là thành thói quen phạm lỗi trên hành trình cuộc đời.

Không bao giờ được quên ngày Chúa đến trong thời gian kết thúc của thế giới và đến trong ngày cuối cùng của đời ta. Tích cực dùng thời gian hiện tại để chuẩn bị cho tương lai vĩnh cữu của mình.

Mùa Vọng là mùa mong đợi Chúa đến. Chúa đến rất bất ngờ và rất âm thầm. Muốn gặp được Chúa, chúng ta phải tỉnh thức.

Chúa Giêsu đưa ra hai dụ ngôn minh hoạ bài học tỉnh thức.

  1. Dụ ngôn người đầy tớ đợi chủ về

Tỉnh thức như người đầy tớ đợi chủ đi ăn cưới không biết về lúc nào. Thái độ tỉnh thức là “thắt lưng cho gọn” và “thắp đèn cho sẵn”. Luôn sẵn sàng để khi chủ về thì mở cửa và ân cần phục vụ. Như thế, tỉnh thức đi kèm với sẵn sàng và nhanh nhẹn. Tỉnh thức để “đợi chủ về”. Người Kitô hữu chờ đợi Chúa đến trong vinh quang ngày quang lâm, chờ đợi Chúa đến trong giờ sau hết đời mình. Vì thế, người Kitô hữu sống cuộc đời hiện tại một cách rất nghiêm chỉnh, họ cố gắng làm phận sự ở đời một cách hết sức tích cực vì biết rằng đó là Thánh ý của Chúa và vì biết rằng hạnh phúc đời đời của mình đang được chuẩn bị ngay bây giờ.

  1. Dụ ngôn người quản gia trung thành

Quản gia chỉ là quản lý mà “ ông chủ đặt lên coi sóc gia nhân, cấp phát thóc gạo đúng giờ đúng lúc”. Mỗi người chúng ta là người quản lý của Thiên Chúa. Cần phải trung thành trong nhiệm vụ được giao. Sự sống, tài năng, trí thông minh, sức khoẻ, sắc đẹp…tất cả đều là do Chúa ban tặng. Những gì mà ta có đều là của Chúa. Người quản lý khôn ngoan phải biết nhìn xa, làm sao cho sự sống, trí tuệ, tài năng… giúp ta hướng tới những giá trị vĩnh cửu.

Tại Thụy sĩ, có một vườn hoa tuyệt đẹp, đủ loại hoa, đủ màu sắc. Nằm giữa vườn là một tòa nhà tráng lệ. Nhìn vườn hoa với cảnh phối trí, cắt tỉa, uốn nắn… ai cũng phải công nhận đã có một sự chăm sóc kỹ lưỡng, kèm theo một óc thẩm mỹ hiếm có của người chủ vườn. Một du khách đi qua đây, thoáng nhìn ông đã thấy như say mê. Giữa lúc đó, người làm vườn bước ra. Chủ khách chào hỏi lẫn nhau. Rồi từ chuyện hoa cỏ, cách chăm bón, trồng tỉa, sự phối hợp màu sắc… câu chuyện đi đến chỗ thân tình.

Du khách hỏi: “Xin lỗi cụ, cụ ở đây được bao lâu rồi?”- “Khoảng 40 năm rồi” – “Tôi đoán, có lẽ ông chủ của cụ rất sành về nghề cảnh, chắc giờ này ông có nhà?” – “Ông ta không ở đây, thỉnh thoảng mới ghé qua đây thôi” – “Ông có thư từ gì với cụ không?” – “Không, ông ta bận lắm” – “Ông không về cũng không thư từ, thì ai trả lương cho cụ?” – “Hàng tháng tôi chỉ nhận được ngân phiếu từ ông ta để chi phí mọi sự cho khu vườn này” – “Thế tội gì cụ phải chăm sóc kỹ lưỡng thế này, ông chủ có mấy khi đến thưởng ngoạn đâu?” – “Tôi thì lại không nghĩ thế, mình là một gia nhân được chủ tín nhiệm trao phó việc bảo quản khu vườn này, mình phải tận tụy chứ lúc nào ông về cũng được, ông sẽ hài lòng với công việc của tôi. Hơn nữa, khi làm đẹp khu vườn cho chủ, chính tôi cũng được thưởng ngoạn cảnh đẹp do chính tay mình làm nên”.

Người gia nhân trên đây thật đáng ca tụng. Ông làm việc không vì sợ nhưng vì yêu, làm việc với một tinh thần trách nhiệm. Ông coi việc của chủ như việc của mình nên làm việc hết tấm lòng. Ông thực là một gia nhân tốt, một quản lý trung thành.

Tỉnh thức là thái độ của một gia nhân trung thành. Tỉnh thức và đợi chờ với niềm hy vọng là chủ sẽ trở về.

Tỉnh thức là tâm trạng của một con người luôn bình an, thư thái. Thái độ sống này giúp người Kitô hữu luôn làm cho mọi công việc hàng ngày trở thành lời nguyện tạ ơn chân thành.

Người tỉnh thức là người luôn cố gắng và nhiệt thành, biết thực thi những gì là chân thật, ngay chính và đáng quý chuộng.

Người tỉnh thức sống ở đời này nhưng tâm hồn đã hướng về những giá trị tinh thần vĩnh cửu đời sau. Thời gian hiện tại là thời gian quyết định đối với số phận đời đời của con người. Mỗi giây phút qua đi là không bao giờ trở lại. Thời giờ Chúa cho ta sống ở trần gian là vô cùng quý báu, đây là lúc gieo mầm cho đời vĩnh cữu.

Ngày Chúa đến sẽ khủng khiếp hoặc vui mừng là tùy cách sống hiện tại của mỗi người. Mọi hành động, mọi tư tưởng đều được phơi bày ra trước ánh sáng của công lý, không ai có thể che dấu một chi tiết nào.

Ngày Chúa đến trong vinh quang để xét xử muôn dân sẽ là ngày cứu độ cho những ai tỉnh thức và chuẩn bị sẵn sàng, nhưng sẽ là ngày kinh hoàng cho những ai đang mê ngủ trong đam mê tội lỗi.

Xin Chúa cho chúng con như ngọn đèn chầu bên Nhà Tạm, thức luôn và sáng luôn trước nhan Chúa. Amen./.

[Mục Lục]

Bài 10. Hãy Canh Thức Kẻo Bắt Gặp Ðang Ngủ

catholic.org.tw

- Dẫn vào Thánh Lễ:

Hôm nay là Chúa nhật 1 Mùa Vọng, bắt đầu năm Phụng Vụ mới.

Mùa Vọng là mùa trông đợi Chúa đến. Chúa đến với chúng ta hai lần đặc biệt, lần thứ nhất Người đến khi giáng sinh làm người cứu độ chúng ta. Và ngày tận thế Người sẽ đến lần thứ hai để thẩm xét mọi người…

Lời Chúa hôm nay dạy chúng ta luôn canh thức chu toàn bổn phận, sẵn sàng đón Chúa đến cứu thoát chúng ta.

Chúng ta hiệp với chủ tế và cộng đoàn dâng Thánh Lễ. Xin cho chúng ta luôn canh thức bằng cách làm trọn bổn phận hằng ngày, vì Chúa sẽ đến thình lình.

- Dẫn vào bài đọc 1: Is 63,16-17. 64,3-8

Ngôn sứ Isaia xin Chúa thương tha tội cho dân Chúa. Xin Chúa đến cứu vớt họ, vì họ là con cái Chúa và vì Chúa là Ðấng cứu độ. Ðó là nội dung bài đọc sau đây.

- Dẫn vào bài đọc 2: 1Cr 1,3-9

Thánh Phaolô vui mừng cảm tạ Chúa vì mọi ơn lành Chúa thương ban cho dân Chúa. Thánh nhân cũng cầu xin cho họ và chúng ta khỏi bị trách cứ điều gì trong ngày Chúa trở lại. Ðó là ý nghĩa đoạn thư sau đây.

- Dẫn vào Tin Mừng: Mc 13,33-37

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu kêu gọi mọi người tỉnh thức chờ Chúa đến cứu rỗi, bằng cách chu toàn trách vụ Chúa giao, kẻo Chúa đến thình lình bắt gặp đang ngủ mê trong tội lỗi.

- Cầu nguyện cho mọi người:

Chúa thương đến cứu rỗi mọi người. Trong niềm hân hoan chờ đón Chúa, chúng ta hiệp lời cầu nguyện.

  1. Chúa giao cho Hội Thánh sứ mạng hướng dẫn dân Chúa trên đường phần rỗi. Xin cho các vị Mục Tử trong Hội Thánh luôn nhiệt thành giúp con cái mình dọn lòng sẵn sàng đón rước Chúa.
  2. Chúa đến lần thứ nhất để loan báo Tin Mừng và chịu chết chuộc tội mọi người. Xin cho chúng ta hết lòng tin kính Chúa và thực hành Lời Chúa dạy.
  3. Chúa đến lần thứ hai để thưởng phạt chúng ta theo việc lành dữ chúng ta làm. Xin cho các Kitô hữu chúng ta luôn tỉnh thức, chuẩn bị sẵn sàng cho ngày Chúa trở lại.
  4. Chúa giao cho mỗi người một trách nhiệm. Xin cho hết mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn chu toàn trách vụ Chúa giao, để đón Chúa đến cứu thoát.

Chủ tế: Lạy Chúa Giêsu, Chúa thương cho chúng con biết Chúa sẽ đến thình lình. Xin cho chúng con luôn chuẩn bị sẵn sàng đón rước Chúa, bằng cách hằng ngày chu toàn trách nhiệm Chúa phú giao.

Bài 11. TỈNH THỨC VÀ CẦU NGUYỆN

ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Mùa Vọng là mùa chờ đón Chúa đến. Chúa sẽ đến nhưng ta không chắc gặp được Người. Vì Người đến rất bất ngờ và rất âm thầm. Muốn gặp được Chúa ta phải tỉnh thức.

Tỉnh thức có nghĩa là đừng mê ngủ. Chúa thường hay đến vào ban đêm nghĩa là vào lúc ta không ngờ. Đời sống có những bóng đêm ru ta ngủ say mê khiến ta không gặp được Người. Có những bóng đêm của tội lỗi giam cầm hồn ta trong giấc ngủ bạc nhược khiến ta không còn đủ sức thoát ra. Tội lỗi lôi kéo tội lỗi. Tội lỗi chồng chất giống như những tảng đá gìm ta xuống vực sâu vô tận. Có những bóng đêm của danh vọng ru hồn ta ngủ quên trên vinh quang chói lọi. Vinh quang giống như ngọn đèn đốt cháy biết bao đời thiêu thân. Có những bóng đêm của xác thịt cuốn hồn ta vào giấc mộng lạc thú. Lạc thú giống như chiếc lưới rất mềm mại, rất nhẹ nhàng, nhưng rất hiểm độc. Linh hồn đã sa vào khó có thể thoát ra. Có những bóng đêm của thói ích kỷ chỉ biết sống cho bản thân mình. Ích kỷ giống như một hang sâu, càng đi vào càng thấy tối tăm. Có những bóng đêm của tiền tài bao phủ ta trong giấc mộng giàu sang phú quí. Chìm đắm trong giấc mộng, ta sẽ chẳng nghe được bước chân Chúa đi qua.

Tỉnh thức cũng có nghĩa là tỉnh táo phân định. Chúa đến rất âm thầm và rất bé nhỏ. Người không đến với cờ quạt trống phách tưng bừng, nhưng đến trong âm thầm lặng lẽ. Người không đến trong uy nghi lẫm liệt của những vị vương đế, nhưng Người đến trong hiền lành khiêm nhường như một người phục vụ. Người không mặc gấm vóc lụa là, nhưng đơn sơ trong y phục dân dã. Người không đến như vị quan toà nghiêm khắc, nhưng như một người cha nhân hậu, một người bạn dễ thương dễ mến. Người đang đến qua những con người hiền lành bé nhỏ quanh ta. Người đang đến trong những con người khốn khổ túng cùng. Người đang đến qua những khuôn mặt xanh xao hốc hác. Người đang đến trong những tấm thân gầy guộc. Người lẫn vào giữa đám đông vô danh. Người chìm mất trong số những kẻ bị loại ra ngoài lề xã hội. Người ẩn mình giữa đám người ăn xin đang lê bước khắp các nẻo đường cát bụi. Người đang rét run với cặp mắt ngơ ngác thất thần ở giữa những nạn nhân bão lụt. Phải tỉnh táo lắm mới nhận ra Người. Phải tỉnh thức lắm mới gặp được Người.

Tỉnh thức không có nghĩa là cứ ngồi đó mà chờ đợi. Tỉnh thức là bắt tay vào hành động. Chúa như ông chủ đi vắng. Người cho ta được toàn quyền khi Người vắng nhà. Người giao trách nhiệm cho ta trông coi gia đình ta, giáo xứ ta, địa phương ta, đất nước ta và cả thế giới nơi ta đang sống. Ta được tự do hành động. Ta có trách nhiệm làm cho gia đình, xứ đạo, địa phương, đất nước, và cả thế giới được phát triển về mọi mặt. Vì thế, tỉnh thức là nhìn thấy những nhu cầu của anh em, và đáp ứng những nhu cầu đó. Tỉnh thức là nhìn thấy ý Chúa trong những trào lưu thời đại. Tỉnh thức là nhận biết Chúa hành động trong những tâm hồn thiện chí thuộc các niềm tin, mầu da, quan điểm khác nhau để biết cộng tác trong việc xây dựng xã hội. Tỉnh thức là dấn thân hy sinh phục vụ anh em trong quên mình.

Ngay từ đầu mùa Vọng, Chúa mời gọi ta hãy tỉnh thức. Hãy bước ra khỏi giấc ngủ miệt mài, lười biếng. Hãy đoạn tuyệt với những giấc mộng phù hoa. Hãy thôi đuổi theo những đam mê dục vọng. Hãy nói không với những đồng tiền bất chính.

Hãy tỉnh táo phân định để nhận ra dung mạo thực sự của Đức Kitô. Đừng chạy theo những khuôn mặt mang dáng vẻ cao sang quyền quý. Đừng chạy theo những khuôn mặt nặng về quyền lực. Đừng chạy theo những lời hứa hẹn giàu sang. Dung mạo đích thực của Đức Kitô là nghèo hèn, là khiêm nhường, là bé nhỏ.

Hãy tỉnh thức để làm việc không ngừng, để quên mình, hi sinh phục vụ cho lợi ích của đồng loại.

Như thế, tỉnh thức không phải là việc dễ dàng. Tự sức ta sẽ khó mà tỉnh thức. Nên ta phải tha thiết cầu nguyện xin ơn Chúa trợ giúp. Có ơn Chúa thúc đẩy, ta mới có thể dứt bỏ con đường tội lỗi xưa cũ. Có ơn Chúa soi sáng, ta mới đủ tỉnh táo nhận ra dung mạo đích thực của Đức Giêsu. Có ơn Chúa trợ giúp, ta mới đủ hăng hái ra đi phục vụ trong quên mình.

Lạy Chúa, xin giữ hồn con tỉnh thức để con nhận biết Chúa đang đến với con trong cuộc sống hằng ngày. Amen.

GỢI Ý CHIA SẺ

1) Tỉnh thức là đừng mê ngủ. Hãy kể ra những bóng tối khiến ta mê ngủ?

2) Tỉnh thức là tỉnh táo phân định. Làm thế nào để nhận ra khi Chúa đến?

3) Tỉnh thức là phải hành động. Muốn tỉnh thức, bạn phải làm những gì?

4) Mùa Vọng này, bạn quyết tâm làm gì để tỉnh thức?

[Mục Lục]

Bài 12. CÂU CHUYỆN CẢNH GIÁC

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Cuộc sống hôm nay chỉ cần mất cảnh giác một chút là có thể thiệt thân. Bởi vì chúng ta phải đối mặt với nhiều yếu tố có thể xâm hại đến sức khỏe, an toàn và tài sản của bản thân, như vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn giao thông, các vấn đề an ninh, trộm cướp…

Có một người kể rằng: một hôm ông ta đang ở nhà thì có một người trung tuổi lạ mặt đến gõ cửa, nói là xe ô tô của ông ta hết xăng rồi. Nhưng mà trạm xăng cách đây quá xa, xe nặng quá không thể đẩy được, nên hỏi mượn tôi một cái chai không để đi mua xăng. Rồi nói sẽ trả tiền cho cái chai không đó. Tôi liền vào nhà tìm một cái chai không đưa cho ông ta. Ông ta liền rút từ trong túi ra tờ 500 nghìn, nói là không có tiền lẻ rồi bảo tôi thối lại. Tôi có chút nghi ngờ nên bảo ông ta thôi không cần trả tiền dù sao cũng chỉ là một cái chai không. Ông ta thấy tôi không cắn câu nên lủi mất.

Điều này tôi đã làm vì cảnh giác, vì có thể tiền này là tiền giả, có thể sẽ bị lừa đổi tờ tiền giả lấy một tờ tiền thật! Hoặc có thể thuốc gây mê đã được ướp vào đồng tiền!

Xem ra cuộc đời thật đáng sợ. Đáng sợ vì chẳng biết tin ai, vì ai cũng có thể làm hại đến mình. Cho dù là người thân vẫn có thể sát hại lẫn nhau chỉ vì một quyền lợi nho nhỏ hay hiểu lầm một chút cũng dẫn đến tàn nhẫn với nhau. Có biết bao lời ta thán buồn cho cuộc đời khi phải thốt lên: “thật không ngờ!”. Không ngờ tại sao sự dữ lại hoành hành tàn bạo, mạnh mẽ như ngày hôm nay? Không ngờ bạn bè chí thân lại phản bội chúng ta?

Chúa Giê-su luôn nhắc nhở chúng ta phải tỉnh thức. Tỉnh thức với thái độ của người làm công luôn tận tụy trong công việc, bổn phận của mình. Tỉnh thức với thái độ làm việc có trách nhiệm với bản thân, với gia đình và xã hội. Mỗi người chúng ta sinh ra đều có một bổn phận trong cuộc đời. Thiên Chúa như ông chủ đã giao cho chúng ta một công việc phải thi hành. Công việc kết thúc khi nào không tùy thuộc vào bản thân chúng ta mà tùy thuộc vào việc ông chủ muốn tính sổ với chúng ta. Thiên Chúa như ông chủ giao việc rồi trẩy đi phương xa và Ngài sẽ trở về một cách đột ngột, bất ngờ. Ông chủ sẽ đòi chúng ta tính sổ cuộc đời để xem chúng ta có thực sự dùng thời giờ, khả năng cho công việc của ông chủ hay mải mê chạy theo những dục vọng mà bê tha bổn phận. Ông chủ sẽ vui khi thấy chúng ta đang làm việc có trách nhiệm. Và ông cũng rất buồn nếu thấy đầy tớ đang mải mê chạy theo những ảo ảnh trần gian.

Thế nên, điều quan yếu là chúng ta phải luôn cảnh giác. Sự cảnh giác không theo kiểu sợ hãi ông chủ trở về đột ngột, mà cảnh giác để chúng ta đừng chạy theo những cám dỗ của danh lợi thú mà sao lãng bổn phận với Thiên Chúa. Ma qủy luôn rình rập chúng ta. Ma quỷ luôn gieo vào chúng ta thái độ ú lì trong công việc. Nó khuyến dụ chúng ta đi vào đam mê trần gian. Nó bảo với chúng ta cứ vui chơi vì thời gian còn dài, đường đời còn dài nên hãy “cứ vui xuân kẻo xuân hết rồi”. Nhiều người đã sa vào vòng xoáy của đam mê do ma qủy bày ra. Nhiều người đã chết vì mất cảnh giác mà tin vào lời dụ ngọt của ma quỷ.

Mùa vọng là mùa của hy vọng, của đợi chờ ông chủ sẽ trở về. Thiên Chúa là ông chủ đã giao cho chúng ta vô số công việc ở trần gian này. Ngài đòi chúng ta phải tận tụy trong công việc. Ngài đòi chúng ta phải làm việc hết mình và đầy đủ trách nhiệm. Điều mà chúng ta cần lưu ý là không biết bao giờ chủ về, ông chủ sẽ đòi chúng ta tất toán cuộc đời vào lứa tuổi nào trong cuộc đời chúng ta. Thế nên, sự khôn ngoan nhắc nhở chúng ta luôn tỉnh thức để khỏi sa vào cám dỗ của lười biếng, của hưởng thụ mà quên bổn phận Chúa trao.

Xin Chúa giúp chúng ta luôn canh phòng tỉnh thức trước những sức lôi cuốn, hấp dẫn của danh lợi thú mà ma quỷ bày ra hòng làm hại cuộc đời chúng ta. Amen./.

[Mục Lục]

Bài 13. HÃY TỈNH THỨC CHU TOÀN CÔNG VIỆC

Lm. Phêrô Lê văn Chính

Chúa nhật thứ 1 mùa Vọng khởi đầu năm Phụng vụ với lời nhắc nhở của Chúa Giêsu đối với các môn đệ: “Hãy tĩnh thức và cầu nguyện, vì các con không biết giờ nào!”. Mùa Vọng chúng ta được nghe những lời mời gọi hối thúc và nhắc nhở sống tỉnh thức vì giờ Chúa đến rất bất ngờ. Đời sống con người được ví như người đầy tớ được chủ tin tưởng trao phó cho mọi việc trong nhà phải chu toàn trong thời gian chủ vắng nhà. Thời gian của đời người như là lúc mà người chủ là Thiên Chúa vắng mặt, nhưng rồi chắc chắn người sẽ trở lại với chúng ta và lúc người trở lại, người mong muốn gặp mỗi người chúng ta tỉnh thức và xứng đáng với công việc mà người đã trao phó. Vì thế, thời gian chủ vắng nhà cũng là thời gian thử thách đối với chúng ta là những người môn đệ vì do bởi sự kiện chủ vắng nhà mà người môn đệ sẽ chứng tỏ con người của mình. Người môn đệ này có thể sẽ trở nên một con người trưởng thành, biết tự huấn luyện mình để trở nên một người môn đệ tài giỏi, tận dụng mọi tài năng và thời gian để chu toàn công việc chủ trao phó. Hoặc người môn đệ này có thể trở nên xấu, lợi dụng thời gian chủ vắng nhà để sống tắc trách, không chu toàn bổn phận. Như thế, tỉnh thức là thái độ căn bản của người môn đệ cũng là kitô hữu. Họ luôn được mời gọi sống trưởng thành, chu toàn công việc với tất cả trách nhiệm nghiêm chỉnh vì thời gian chủ trở về luôn bất ngờ. Ðó cũng là thời gian trắc nghiệm cần thiết đối với họ.

Thời gian mùa Vọng khai mở một năm Phụng vụ mới đối với Kitô hữu. Vọng là hướng về, chờ đợi trong hy vọng trong tin tưởng với trách nhiệm chu toàn công việc được trao phó. Tâm tình các bài đọc của tuần thứ nhất mùa Vọng này hối thúc chúng ta nhìn lại chính bản thân mình, nhận thức sự thiếu thốn, trống vắng, nghèo hèn trong thân phận tội lỗi của mình, và nhận thức rằng chỉ có Chúa mới có thể lấp đầy sự thiếu thốn của chúng ta, chữa lành tình trạng tỗi lỗi của mình để ban cho chúng ta sự sống sung mãn. Tự sức chúng ta, chúng ta không thể chữa lành tội lỗi của mình, Giáo hội nhắc nhở và chỉ cho chúng ta thấy sự khốn cùng của thân phận con người tội lỗi và chỉ cho chúng ta con đường gặp gở Thiên Chúa tha thứ cứu độ.

Sự hiểu biết của Giáo hội tiếp nối nhận thức của các tiên tri là những con người có kinh nghiệm về mầu nhiệm Thiên Chúa và thân phận tội lỗi của con người. Tiên tri Isaia là người có nhận thức sâu sắc về sự cần thiết của con người phải gặp gở Thiên Chúa để được tha thứ tội lỗi. Trong lời cầu nguyện của ông, ông cho thấy mình đã sống mạnh mẽ tâm tình của người con đối với Thiên Chúa là Cha. Vì Thiên Chúa là Cha nên con người có quyền kêu cầu Cha thương nhìn đến thân phận phiêu dạt, tội lỗi của mình. Thiếu vắng Thiên Chúa là Cha, con người cảm thấy lạc loài bơ vơ, bất hạnh và chìm ngập trong tội lỗi. Vì thế, con người tha thiết cầu xin Thiên Chúa là Cha thương xót tha thứ tội lỗi để được cứu độ : “Chính Người là Cha chúng tôi, Ðấng chuộc chúng tôi tự ngàn xưa, đó là danh Người. Nhân sao lạy Giavê, Người để chúng tôi lạc xa đường lối Người.

Ý thức sắc bén này về Thiên Chúa là Cha yêu thương của tiên tri Isaia mà Giáo hội muốn nhắc lại gặp phải một trở ngại rất lớn nơi con người chúng ta ngày nay. Cách sống của chúng ta ngày nay như thể là Thiên Chúa không hiện diện và như thể là con người có thể tự lo liệu cho đời sống của mình. Chúng ta sống như thể Thiên Chúa không cần thiết và những giáo huấn và thánh ý của Thiên Chúa là dư thừa, không liên hệ gì với tương lai hay hiện tại của mình, bởi vì chúng ta sống như chính mình là kẻ tự quyết định những chuẩn mực luân lý cho đời sống của mình. Ngay cả khi đối diện với những đau khổ trong cuộc đời hay trong thế giới con người cũng tự mình giải quyết mà không cần nhờ đến Thiên Chúa. Con người như thể tự tạo cho mình hạnh phúc ở trần gian.

Câu chuyện Phúc âm chúa nhật này nhắc nhở là hãy tỉnh thức vì không biết khi nào thời buổi nào chủ nhà đi phương xa sẽ trở về. Câu chuyện này cũng phù hợp với tâm trạng mà chúng ta nêu trên. Không phải như chúng ta nghĩ, mà ngược lại con người thực sự cần đến Thiên Chúa, vì con người là tôi tớ của Thiên Chúa. Những công việc mà chúng ta làm là những công việc do Thiên Chúa trao phó và chỉ có ý nghĩa vì chính Chúa sẽ trở lại với chúng ta. Như thế, vị trí của con người trong thế giới được hiểu như là vị trí hay vai trò của những người quản lý chăm sóc công việc của chủ. Người quản lý vì thế được trao cho quyền hạn chăm sóc mọi việc trong nhà của chủ cũng như được yêu cầu phải tỉnh thức chờ đợi chủ trở về.

Ðiểm nhấn của bài Phúc âm là khi chu toàn công việc, con người tỏ ra tỉnh thức và tỉnh thức cũng là chu toàn công việc được trao phó. Thái độ tỉnh thức không phải là thái độ nào khác hơn là chu toàn tận tụy với công việc của mình. Kinh nghiệm cho thấy rằng con người thường có thái độ đưa đến thất bại là, hoặc trở nên tắc trách vì coi thường trách nhiệm dẫn đến đời sống buông thả và bê bối, thái độ “vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm”. Từ lối sống tắc trách này, khi gặp khó khăn, con người thường đổ lỗi cho người khác hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh chứ không khiêm tốn nhận lỗi của mình. Hoặc triền miên gặp phải cám dỗ chán nản muốn bỏ cuộc không còn muốn lãnh nhận công việc đang làm. Thái độ chán nản này dẫn đến bi quan trong công việc, không gặp được niềm vui, an ủi, mà chỉ thấy những khó khăn cản trở, hiểu lầm. Chúng ta dễ quên rằng chính đời sống bình thường hằng ngày, với những công việc chúng ta đang làm khi chu toàn bổn phận, với những người mà chúng ta đang sống cùng với họ và đang làm việc, thì đó cũng chính là thời gian mà chúng ta tỉnh thức chờ đợi chủ trở về.

Nhận thức thay đổi có thể làm thay đổi thái độ sống, và thay đổi thái độ sống có thể dẫn tới những viễn tượng thành công và hạnh phúc. Ðời sống con người trong thế giới được cảm nghiệm trong tâm tình của những người con của Thiên Chúa là Cha. Những người con này cảm nghiệm thân phận thiếu thốn của mình và hy vọng chờ đợi Thiên Chúa là Cha đến với mình. Thánh Phaolô nhắc nhở là ngài cảm tạ Thiên Chúa vì trong Chúa Giêsu Kitô chúng ta đón nhận được nhiều ơn lành của Thiên Chúa. Vì đón nhận nhiều ơn lành của Thiên Chúa, chúng ta được mời gọi chung phần với người Con Thiên Chúa là Ðức Giêsu bởi vì Thiên Chúa luôn trung tín. Bức thư mà Giáo hội trích lại từ thư Corintô nhắc nhở chúng ta là ơn Thiên Chúa ban cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô giúp chúng ta được luôn bền vững trong đời sống hiện tại chờ ngày Đức Giêsu lại đến. Theo thánh nhân, Thiên Chúa là Đấng luôn trung tín, và vì trung tín, Thiên Chúa ban cho chúng ta dư dật mọi ơn lành không thiếu ơn nào để chúng ta cũng được bền vững chờ ngày Chúa đến. Dự định của Thiên Chúa là cho chúng ta được hiệp nhất với người Con một này của Thiên Chúa.

Cuộc sống người tín hữu trong trần thế, với nhiều gánh nặng và lo toan cũng như cám dỗ làm chúng ta có thể lạc xa thánh ý Thiên Chúa mời gọi mỗi người. Mùa Vọng để nhắc nhở chúng ta nhớ lại ý nghĩa và hướng đi của đời sống mình. Mùa Vọng là thời gian để trở về với Thiên Chúa, để biết sống tỉnh thức chờ đợi Thiên Chúa đến. Ðời sống con người là thời gian tỉnh thức chu toàn công việc được trao phó. Lời Chúa nhắc nhở chúng ta thái độ tỉnh thức để thấy tình trạng tội lỗi của mình và biết kêu cầu Chúa trợ giúp. Mùa Vọng còn để nhắc nhở chúng ta là những người tôi tớ được trao trách nhiêm và phải tỉnh thức sẵn sàng chờ đợi Chủ trở về bất ngờ.

[Mục Lục]

Bài 14. CANH THỨC CHỜ CHÚA ĐẾN

Lm Bùi Thượng Lưu

Bắt đầu từ Chúa Nhật 1 Mùa Vọng hôm nay, toàn thể giáo hội chính thức bước vào Năm Phụng Vụ mới, cùng với lời mời gọi của Chúa Giêsu trong Tin Mừng theo thánh Maccô: “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến. Vậy anh em phải canh thức, vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến: lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng, kẻo lỡ ra ông chủ đến bất thần, bắt gặp anh em đang ngủ “(Mc 13, 33, 35-36).

Tại các nhà thờ Đức có một tục lệ rất ý nghĩa là mỗi nhà thờ đều trang điểm vòng hoa Mùa Vọng với những cành thông tươi xanh và bốn cây nến, tượng trưng cho 4 Chúa nhật Mùa Vọng. Khởi đầu thánh lễ mỗi Chúa nhật, đang khi cộng đoàn hát bài Mùa Vọng, cây nến được thắp sáng. Chúa nhật thứ nhất thắp sáng một cây. Chúa nhật thứ hai thắp sáng hai cây. Khi cả bốn cây được thắp sáng, thì đại lễ giáng sinh cũng đã gần kề. Tục lệ này cũng được lan rộng trong nhân gian, tới hầu hết các công sở, các gia đình. Nơi nào cũng bầy vòng thông Mùa Vọng với đủ loại nến mầu đỏ, tím…

Như vậy ý nghĩa thứ nhất trong Mùa Vọng là mùa canh thức chuẩn bị tâm hồn để đón mừng Chúa Giáng Sinh. Trọng tâm của lịch sử và Tin Mừng cứu độ chính là biến cố: Thiên Chúa xuống thế làm người để cứu nhân độ thế.

Ngày giáng trần của Chúa Giêsu phải được đón mừng vì đây là Biến Cố có một không hai trong lịch sử cứu độ: nhờ Ngôi Lời nhập thể làm người thì vũ trụ vạn vật lại được đổi mới (TNKB, s. 3). Kể từ Biến Cố này, Trời giao hòa với Đất, nhân loại được Thiên Chúa yêu thương và toàn thể vũ trụ được đón nhận TIN Mừng cứu độ. Chính vì thế, Biến cố Giáng Sinh của Chúa Giêsu đã trở nên Trung Tâm điểm của lịch sử nhân loại, mốc điểm thời gian.

Theo Kinh Thánh, canh thức là thái độ của một người “đang tỉnh thức chờ đợi”, không ngủ mê, không thụ động, nhưng canh chừng, luôn phòng bị để kịp đối phó với kẻ địch tấn công bất ngờ (Tv 127, 1t), lòng nhiệt tâm chu toàn trách nhiệm hiện tại, biết nhận ra những dấu chỉ thời đại, khám phá ra thánh ý Thiên Chúa, kiên tâm phục vụ trong yêu thương, đang khi ngóng chờ một biến cố sắp xẩy đến… sẵn sàng đón tiếp Chúa, khi Ngày của Ngài điểm.

Đây là lời khuyên nhủ, dặn dò chính yếu của Chúa Giêsu dậy các môn đệ của Ngài. Vì Chúa đến bất chợt như kẻ trộm ban đêm (Mt 24,43t), như ông chủ trở về mà không báo cho các đầy tớ biết (Mt 13,35t), như chàng rể đến lúc canh khuya, và chỉ năm cô trinh nữ khôn ngoan đang canh thức với đèn đầy dầu, mới kịp ra đón rước chàng rể vào dự tiệc cưới (Mt 25, 1-13).

Vậy canh thức là đặc tính căn bản, là thái độ sắp sẵn của người môn đệ Chúa, để chỗi dậy khỏi giấc ngủ đam mê, nghĩa là dứt khoát với tội lỗi, dứt bỏ trần thế và những đam mê dục vọng (Lc 21, 34tt). Canh thức là hoán cải và trở về với Chúa, không nằm lì trong tội ác, không cứng lòng và khinh thường tiếng mời gọi thống hối của Chúa. Canh thức trong cầu nguyện, tiết độ, không chè chén say sưa, không cờ bạc, không say đắm nhục dục… quyết không để “ba cái lăng nhăng” nó quấy ta!

Canh thức để nhận diện ra kẻ thù và chiến đấu với thần dữ. Trong giờ kinh tối, các linh mục và tu sĩ thường đọc: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1P 5,8). Ma quỷ có thể ẩn hiện trong những phim ảnh xấu, những sách báo đồi trụy, ma túy… những dịp tội gần xa đưa chúng ta xa Chúa, lạc đường về Quê Trời.

Canh thức để phân biệt phải trái: đừng bị ru ngủ, bị đầu độc, bị tuyên truyền bởi óc hưởng thụ, bởi tinh thần vị kỷ cá nhân, bởi các học thuyết vật chất vô thần, bởi những ông đạo buôn thần bán thánh, bởi những mê tín dị đoan, bởi những quảng cáo quyến rũ, những truyền đơn loan tin thất thiệt ngày tận thế…

Canh thức để khỏi bị chán nản, ngã lòng nản chí, bỏ cuộc. Có những tín hữu gặp thử thách trong đời sống gia đình, gặp những khó khăn về vật chất, bị đau ốm lâu dài… đã nản lòng, kêu trách Chúa, và nhiều khi bỏ nhà thờ, bỏ cầu nguyện, bỏ Giáo hội!

Canh thức trong cầu nguyện theo gương Chúa trong vườn cây dầu. Cầu nguyện ở đây được hiểu là cầu kinh sớm tối. Cầu nguyện là đọc và suy gẫm Lời Chúa trong Thánh Kinh. Cầu nguyện có thể là lần chuỗi Mân Côi, miệng đọc lòng suy. Cầu nguyện cao đẹp nhất là tham dự thánh lễ Chúa nhật… Tất cả những hình thức cầu nguyện trên đây, giúp người tín hữu luôn hiệp thông với Chúa, tâm hồn luôn lắng nghe những “thánh chỉ” của Chúa.

Canh thức để trung tín giữ luật Chúa: luật yêu thương, luật công bằng. Trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống, người tín hữu hằng để luật Chúa như đèn soi, như kim chỉ nam cho mọi ước muốn, mọi tư tưởng, mọi lời nói và việc làm của mình.

Canh thức để phục vụ anh em: người tín hữu luôn được Chúa mời gọi để sống đời phục vụ trong bác ái và trong yêu thương. Đời sống gia đình là môi trường phục vụ lý tưởng nhất. Vợ chồng kitô hữu hiến thân cho nhau, tha thứ cho nhau, biết tận tâm giáo dục con cái, biết dùng của cải Chúa ban để mưu sống gia đình, nhưng đồng thời cũng biết chia cơm sẻ bánh cho anh em nghèo đói kém nay mắn hơn trên khắp thế giới. Mỗi tín hữu còn được Chúa mời gọi để phục vụ cộng đồng, các giáo xứ, Hội Thánh, tùy theo khả năng và hoàn cảnh.

Canh thức để đón chờ Chúa đến. Tín hữu Chúa Kitô biết rõ ràng rằng: cuộc sống trần gian, tất cả của cải đều mau qua chóng hết, không ai sống mãi, nhưng đi về vĩnh cửu. Điều chắc chắn là mỗi người chúng ta sẽ có một ngày phải từ giã cõi đời tạm này. Nhưng chết vào ngày giờ nào, chết cách nào, chết ở đâu? Chẳng có ai biết được. Do đó, tín hữu Chúa phải tỉnh thức để đón chờ Chúa đến.

Từ ngày lãnh nhận phép Thánh Tẩy, người tín hữu là con cái của ánh sáng, nên phải luôn tỉnh thức để mình khỏi rơi vào đêm tối của sự chết, không mất mục tiêu, không quên ngày Chúa đến cuối đời của mình…

[Mục Lục]

Bài 15. TỈNH THỨC ĐỂ BẢO TOÀN SINH MẠNG

Lm. Trần Ngà

Tai nạn giao thông ngày càng gia tăng khốc liệt, gây ra chết chóc, thương tật, tai hoạ cho hàng chục ngàn người mỗi năm tại Việt Nam. Chưa từng có trận chiến nào trong lịch sử chiến tranh Việt Nam cận đại ngốn nhiều nhân mạng và gây nhiều thương vong cho bằng tai nạn giao thông trên các tuyến đường dọc theo chiều dài đất nước trong những năm qua.

Nguyên nhân chính gây ra tai nạn giao thông là người lái xe không tỉnh táo. Phải lái xe suốt đêm trường trên những con đường dài thăm thẳm khiến người lái thiếp đi lúc nào không hay. Một số khác mất tỉnh táo vì men rượu, nên không thể chủ động và phản ứng kịp thời khi tình huống xấu xảy ra. Thế là tai hoạ và chết chóc chụp xuống trên đầu nhiều người thật khủng khiếp.

Khi tài xế ngủ gật, say rượu bia thì nguy cơ gây nên cái chết cho mình và cho người liên hệ hầu như chắc chắn. Người lái xe không tỉnh thức, vì ngủ gật hay vì ma men, là kẻ sát nhân và là người tự sát, gây nên những hậu quả nghiêm trọng khôn lường cho nhiều nạn nhân vô tội.

Chính vì thiếu tỉnh thức dễ đưa đến những hậu quả nghiêm trọng khôn lường nên Chúa Giêsu đã nhiều lần kêu gọi mọi người đừng mê ngủ nhưng hãy tỉnh thức dưới nhiều hình thức:

Tỉnh thức như người tôi tớ chong đèn đợi chủ đi ăn cưới mãi đến hai hoặc ba giờ sáng mới về (Luca 12, 35-48); tỉnh thức như người chủ nhà canh phòng kẻ trộm thâm nhập giữa đêm khuya (Mt 24, 42-44); tỉnh thức như người quản lý được người chủ đi xa giao trọng trách quán xuyến việc nhà mà không biết giờ nào chủ trở lại kiểm tra công việc đã được giao phó (Mc 13, 33-37. Lc 12, 42-46); tỉnh thức như những cô phù dâu mang dầu đèn đi đón chàng rể có thể vào giữa đêm khuya mới đến. (Mt 25,1-13)

Trong các trường hợp được nêu trên đây, việc tỉnh thức sẽ mang lại phần thưởng lớn lao và sự ngủ mê sẽ gây hậu quả tai hại.

Mỗi người chúng ta là những người tài xế điều khiển chiếc xe cuộc đời của mình, có trách nhiệm với vận mệnh đời đời của mình cũng như những người liên hệ.

Những nhà lãnh đạo cao cấp của đất nước là những người lèo lái chiếc tàu quốc gia. Nếu những vị nầy “mê ngủ”, chắc chắn sẽ gây ra hậu quả đau thương cho đất nước, cho dân tộc và cho thế giới. Đại biểu cho những “tài xế” kiểu nầy gồm những nhân vật như Hitler, Stalin, Sadam Hussein và rất nhiều tên tuổi khét tiếng khác.

Những nhà lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo là những người cầm lái cỗ xe tôn giáo, có trách nhiệm uốn nắn lương tâm của số đông tín đồ, nếu không tỉnh táo thì cũng sẽ dẫn đưa hàng vạn tín đồ của mình lao xuống vực thẳm bạo lực, chiến tranh tôn giáo hoặc những hình thức khủng bố dã man như đã xảy ra lâu nay.

Những Thầy Cô giáo nắm tay lái cỗ xe học đường, có sứ mạng đào tạo những mầm non hôm nay thành những rường cột cho nước nhà mai sau, nếu không tỉnh táo thì sẽ đưa bao thế hệ học sinh xuống vực.

Vị chủ chăn trong giáo xứ hay bậc phụ huynh trong các gia đình cũng đều là những “tài xế” điều khiển những chiếc xe Chúa trao cho mình quản lý, nếu không tỉnh táo, không sáng suốt thì gây phương hại cho mình cũng như cho vô vàn người khác.

Người lái xe đường dài ban đêm không bao giờ dùng bia, rượu, những chất gây ngủ hoặc bất kỳ loại thức ăn nước uống nào làm cho đầu óc mất tỉnh táo.

Là tài xế cầm lái chiếc xe đời mình, chúng ta quyết không để cho men say của lạc thú, bóng tối của dục vọng, những cơn lốc của đam mê… làm mờ tối lương tri, làm thui chột con mắt linh hồn, làm mê muội tâm trí, khiến chúng ta không còn tỉnh táo để lèo lái đời mình theo đường lối Chúa Giêsu.

Người chạy xe đêm đường dài cần đến cà phê, thuốc lá, nước tăng lực, khăn lạnh… để làm cho đầu óc luôn tỉnh táo hầu tránh được tai nạn giao thông, khỏi làm thiệt hại mạng sống mình cũng như những người liên hệ; thì chúng ta, những người đang lèo lái đời mình qua nhiều khúc quanh của cuộc sống, xuyên qua bóng đêm cuộc đời, cũng luôn cần Lời Chúa lay tỉnh, để khỏi gây gương mù làm hại linh hồn người khác và có thể tỉnh táo, sáng suốt đưa đời mình, linh hồn mình về đến bờ bến bình an.

[Mục Lục]

Bài 16. TỈNH THỨC

ĐGM. Nguyễn Sơn Lâm

Mở đầu niên lịch Phụng vụ, ba bài đọc Thánh Kinh của Chúa nhật thứ nhất Mùa Vọng năm nay phác họa lại cho chúng ta một vài thái độ trong khung cảnh sống của Dân Chúa: ngay giữa đêm tối của thử thách, nghi ngờ, phấn đấu, tội lỗi, Dân Chúa đã cùng nhau tự thú những lỗi phạm của mình, cương quyết sống trung kiên mong chờ ngày Quang Lâm của Chúa Giêsu Kitô trong niềm tin tưởng và thái độ tỉnh thức.

Quả vậy, bài đọc Isaia 63,16-64,7 trình bày lại bối cảnh của đoàn dân Thiên Chúa sau thời Lưu đày. Kinh nghiệm ê chề của những năm tháng sống kiếp nô dịch trên phần đất ngoại bang đã đem lại cho họ một ý thức tập thể về những lỗi phạm của mình. Họ ngước mắt nhìn về Thiên Chúa là Cha để thốt lên lời khẩn nguyện: “Ôi phải chi Người xé trời ngự xuống, thì núi non cũng sẽ tiêu tan trước Nhan Ngài”. Tâm trạng hối lỗi và tha thiết khẩn nài ơn cứu độ đã giúp Dân Chúa nhận định lại ơn gọi của mình để sống trọn vai trò chứng nhân trung thành giữa muôn dân qua thân phận mỏng dòn và hèn yếu của cuộc sống con người.

Bảy thế kỷ sau, khoảng 25 năm sau ngày Đức Kitô về trời, thánh Phaolô cũng đã nhắc nhở lại ơn gọi thực sự của người Kitô hữu: không những chỉ ý thức những sai lỗi của mình, nhưng còn phải sống vươn lên mong chờ ngày Đức Kitô trở lại. Các cộng đoàn tín hữu tiên khởi đã sống trong hoàn cảnh hồi hộp, nao nức mong chờ ngày trọng đại đó. Những lời nguyện: “Maranatha, Lạy Chúa, xin hãy trở lại” (1Cr 16,22) càng đặt họ vào tâm trạng xao xuyến và đầy xúc động. Ngài ở đây! Ngài ở kia! (2Th 2,2). Và có khi vì mỏi mệt đợi chờ, họ đã không ngần ngại thốt lên: “Có lẽ Ngài đến chậm”.

Tâm trạng khắc khoải đó cần bắt gặp được một cái gì vững chắc củng cố lòng tin tưởng: nếu không, thái độ tỉnh thức mong chờ của họ sẽ hão huyền, ảo vọng.

Quả vậy, mỗi lần cử hành nghi lễ bẻ bánh, cộng đoàn dân Chúa vẫn long trọng tuyên xưng lại niềm tin của mình:

“Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại, cho tới khi Chúa lại đến”.

Nỗi lòng mong chờ khắc khoải đó như được xoa dịu và soi sáng bởi lời Đức Kitô trong đoạn Tin Mừng theo thánh Marcô 13,33-37. Ngài như một chủ nhà phải ra đi, vắng xa và vắng lâu. Sau khi trao phận sự quản lý cơ nghiệp cho gia nhân, mỗi người theo chức vụ của mình, Ngài đặc biệt tín cẩn và căn dặn người canh cửa: “Hãy tỉnh thức”. Phải, hãy tỉnh thức để đón chờ ngày tái ngộ. Cuộc tái ngộ có thể xảy ra một cách rất bất ưng vào một lúc nào đó trong ban đêm. Gia nhân và nhất là người canh cửa phải tỉnh thức, luôn sống trong ánh sáng ban ngày để không ngái ngủ, không thất hứa với chủ nhà trước lúc ra đi.

Đặt đoạn văn trên vào khung cảnh lịch sử cứu độ, giữa ngày về trời và ngày trở lại của Đức Kitô, chúng ta có thể nói, thái độ tỉnh thức đó chính là thái độ của Giáo hội, của toàn dân Chúa và nhất là của những người hữu trách các cộng đoàn.

Nhưng tại sao phải tỉnh thức?

Vì trước tiên, đó là ý muốn, là mệnh lệnh của chủ nhà. Để cho cửa nhà êm ấm, an toàn và trường tồn, phận sự của người canh cửa, không phải chỉ lo bảo vệ ngôi nhà, mà còn phải lưu tâm đến những người sống trong đó.

Ngoài ra, tỉnh thức còn là thái độ của một gia nhân trung thành đối với người đã tín nhiệm, ủy thác trách vụ cho mình. Và chắc chắn niềm vui của ngày tái ngộ sẽ trọn vẹn nếu chủ nhà gặp được gia nhân trong tư thế đợi chờ và sẵn sàng.

Hơn thế nữa, tỉnh thức cũng là để khỏi rơi vào giấc ngủ! Mà thường người ta chỉ ngủ lúc ban đêm, trong bóng tối! Theo nghĩa Thánh Kinh, ban đêm, bóng tối, gợi lên cho chúng ta hình ảnh một môi trường đầy nguy hiểm, đầy thử thách. Bóng đêm đối nghịch lại ánh sáng ban ngày. Đó là chiều kích thử thách của cuộc sống. Nó đưa đến tội lỗi, đau khổ, sự dữ… Nó đưa đến sa ngã, nản chí, nghi ngờ. Người canh cửa có thể bội phản người thân xa vắng, để chạy theo những quyến rũ của kẻ khác, của ngẫu tượng đồng lõa với bóng đêm.

Và tỉnh thức như thế nào?

Phải chăng là thắp đèn ngồi chờ? Là sống trong tâm trạng viễn vông! Không! Đọc lại Thánh Kinh và lịch sử dân Chúa, chúng ta thấy việc tỉnh thức đợi chờ không phải là một thái độ thụ động. Nhưng là một hành vi ý thức của người hiểu biết lý do.

Vì thế, thái độ tỉnh thức của Giáo hội và đặc biệt của những người hữu trách dân Chúa phải sống động và đầy tính chất sáng tạo. Đó là thức tỉnh hiệp thông với người bạn của mình. Đó là thái độ của một người bạn trung thành, cởi mở để luôn lắng nghe lời nói của bạn mình. Như thế, tỉnh thức đối với Giáo hội, có nghĩa là không ngừng chiến đấu để sinh tồn, để trung thành với Lời Chúa. Dầu xa vắng, nhưng hầu như tiếng nói, lời hứa và sự hiện diện của Ngài luôn xoáy động trong lòng Giáo hội và chi phối mọi sinh hoạt của dân Chúa. Với ánh đèn soi sáng và sưởi ấm đó, Giáo hội như có một nghị lực để cảm thông và tìm ra được ý muốn của Ngài qua mọi biến cố trong cuộc sống, qua mọi dấu chỉ thời đại.

Sự đối nghịch giữa ánh sáng và bóng tối tạo nên trong tâm hồn mỗi người và trong đời sống Giáo hội một sự giằng co căng thẳng, mà chúng ta phải dùng như một đà tiến để vươn lên, Giáo hội có phận sự rút kinh nghiệm từ các sự kiện xảy ra trong lịch sử quá khứ và hiện tại để sửa chữa lỗi lầm, tự thanh luyện mình để tiến tới sự hoàn thiện như Chúa Kitô mong muốn. Đặc biệt Giáo hội phải sẵn sàng từ bỏ địa vị ưu thế trong xã hội để chấp nhận thân phận đầy tớ phục vụ chủ nhà mình và anh em.

Để tỉnh thức chờ Chúa đến, Giáo hội phải nhẹ lòng đối với của cải trần thế và dứt khoát với những quyến rũ của các ngẫu tượng. Khi làm như thế, Giáo hội thực sự đang cầm đèn trong tay sẵn sàng đợi Đức Kitô, vì ngày trở lại của Ngài sẽ xảy tới bất chợt.

Đồng thời, nếp sống của Giáo hội sẽ là ánh sáng thức tỉnh mọi người để họ nhận ra Đức Kitô là Đấng Cứu Thế đích thực. Giáo hội đang mang trong lòng sức sống và động lực thúc đẩy chính mình và cả thế giới tiến lên gặp Đức Kitô. Thế nên, tỉnh thức là phận sự cần thiết của những con người chứng nhân cho ánh sáng. Và Giáo hội phải là kho dự trữ sức sống phong phú và sung mãn chuẩn bị cho mọi người đón nhận thời viễn lai. Vì thế, khi hướng về ngày Chúa Kitô trở lại, Giáo hội quả là niềm hy vọng cho toàn thể thế giới và vũ trụ.

BÀI GIẢNG

  1. Đời sống con người, có thể nói, bao giờ cũng bao hàm một khía cạnh đau thương khổ sở. Không phải chỉ thời nay mới khổ; thời trước cũng đã khổ rồi và bao lâu còn sống ở trần gian thì con người vẫn phải chịu đựng hy sinh và đau khổ. Bài sách Isaia chúng ta đọc hôm nay, đã được viết ra sau thời dân Dothái bị lưu đày bên Babylon. Bài sách ấy cho ta thấy rằng: tuy hết bị lưu đày, nhưng dân Dothái vẫn tiếp tục gánh chịu đau khổ. Điều làm cho họ đau khổ nhất, chính là họ nhận thức ra rằng họ đã “đi lạc xa đường Chúa”, đã “phạm tội” và “đã bị phó mặc cho quyền lực tội lỗi”.

Tội lỗi của con người, đó chính là nguyên nhân sâu xa gây nên mọi đau khổ. Bài sách Isaia hôm nay thôi thúc ta nhìn vào khổ sở hiện tại như là tiếng gọi cảnh tỉnh ta nhận thức tội lỗi của mỗi người và của cả nhân loại để mau hoán cải trở về với Thiên Chúa. Ngài là Cha yêu thương, là Đấng cứu độ nhân từ và luôn luôn trung thành với lời Ngài đã hứa.

Những khó khăn kinh tế hiện nay cũng gây nên cho ta những khổ sở, nhưng ta nên biết rằng đó là hậu quả không thể tránh được của một nước vừa bị 30 năm chiến tranh tàn phá như nước ta. Và chúng ta, người công giáo còn phải nhìn nhận như dân Chúa thời xưa “Này Chúa thịnh nộ vì chúng tôi đã phạm tội”. Với ý chí đổi đời và cải tạo, với quyết tâm từ bỏ mọi ích kỷ cá nhân, mọi tham lam và hận thù, Chúa sẽ ban cho ta nguồn nghị lực mới để xây dựng một xã hội tốt đẹp và huynh đệ hơn.

  1. Trong công cuộc này, chúng ta hãy lắng nghe những lời đầy an ủi trong thư thánh Phaolô: “Tôi hằng cảm tạ Chúa thay cho anh em, vì anh em được đầy tràn mọi ơn, trong khi mong chờ Đức Kitô lại đến”. Thánh Phaolô ảo tưởng, không nhìn thấy thực tế sao? Ngài không ảo tưởng. Ngài biết rõ các giáo đoàn của ngài. Họ là dân không giàu có, không thế lực. Nhưng hết thảy họ là những người được kêu mời hiệp nhất với Con Thiên Chúa, là Đức Giêsu Kitô. Phải, chúng ta là những con người như thế. Chúng ta đừng chỉ nhìn vào đời sống vật chất của mình để thấy xót xa vì thiếu thốn, nhưng còn phải biết nhìn vào tâm hồn, vào tinh thần, vào thiên chức được làm con cái Thiên Chúa, được vinh dự phát huy tình yêu của Ngài đối với trần gian.

Chúng ta cũng hãy hãnh diện, tin vào ý kiên trì của dân tộc Việt Nam trong quá khứ, đã khắc phục được bao khó khăn để vươn lên trong tư thế độc lập tự do, thì trong tương lai cũng sẽ thành công trong việc xây dựng một nước Việt Nam thống nhất, ấm no và có tình yêu thương giữa mọi người đồng bào cùng máu mủ.

  1. Mùa Vọng nhắc lại cho ta cả hai chân lý ấy, một đàng dân Chúa như đang lầm than khổ sở, nhưng đàng khác cũng chính dân ấy đã được bảo đảm một tương lai tốt đẹp, trước hết theo ý nghĩa tinh thần, nhưng sau đó cũng kèm theo tất cả mọi khía cạnh được Chúa thánh hóa để làm nên hạnh phúc toàn diện cho con người. Thế nên, Đức Kitô trong bài Tin Mừng hôm nay dạy ta hãy tỉnh thức đừng mê ngủ. Những than vãn, thở dài, chỉ làm cho thân xác rũ xương và đời sống trở nên đen tối. Trái lại, nếu tỉnh táo, nhìn về tương lai với niềm tin vững mạnh, thì một chân trời mới đang dần dần mở ra trước mắt ta.

Người tín hữu cũng sống trong trần gian và phải hy sinh gian khổ như mọi người. Nhưng nhờ niềm tin như đèn sáng trong tay, chúng ta là những người đang tỉnh thức chờ Đức Kitô trở lại: Ngài là Chúa đem lại hòa bình, là Đấng cứu độ trần gian. Thế nên, lòng ta tràn đầy hy vọng và ta có phận sự chiếu tỏa niềm hy vọng phấn khởi ấy chung quanh ta.

4. Chúng ta hãy mạnh dạn tuyên xưng niềm tin của Giáo hội chúng ta, trước khi đem cuộc đời lam lũ đặt vào đĩa thánh, hiến dâng sự sống và con người của ta cho vinh quang Nước Trời mà Chúa đang dành cho các con cái của Người.

[Mục Lục]

Bài 17. MỞ RỘNG TÂM HỒN ĐÓN CHÚA

Lm Nguyễn Bình An

“Trời cao xin đổ sương xuống. Mây hãy mưa vị cứu tinh. Đất hãy nẩy sinh Đấng cứu đời và không trung biểu dương oai phong Chúa Trời” là nhưng tiếng ca hy vọng, nức nở và ai oán, diển đạt tâm trạng sa lầy của con người. Sa lầy trong cuộc đời khổ ải và gian truân. Sa lầyvì duyên nợ oan nghiệt và tình đời đắng cay. Sa lầy vì tâm cao hơn trời nhưng đam mê và dục vọng đóng khung và đầy đọa con người dưới đất. Sa lầy vì hạnh phúc vụt bay và tiền, tình, tài chỉ là tai họa. Sa lầy vì thân xác héo khô, mỏi mòn và tâm hồn sầu buồn, khắc khoải.

Con người hoàn toàn bất lực trong tiến trình tu thân tích đức. Con người không thể tự giải phóng bản thân khỏi những đam mê, dục vọng và yếu đuối. Con người không thể giải hóa nổi những đố kị, tranh chấp và tị hiềm. Con người vì thế ngước mắt lên trời cao, thét gào ơn cứu độ và xin mưa ơn công chính. Khát vọng nên công chính là nguyên nhân và ý nghĩa của mùa Vọng. Ơn công chính như nước tưới sa mạc khô cằn để cây cỏ xanh tươi và cuộc đời thêm ý nghĩa và đáng sống.

Ngày rước lễ vỡ lòng, bé Thanh xúng xính trong bộ đồng phục thiên thần. Bé vui nhận những món quả sau nghi thức thánh. Bé ôm chặt mẹ và ngây thơ tâm sự “Mẹ ơi, con muốn chết bây giờ để lên thiên đàng. Con sợ sau này con lớn sẽ có nhiều tội và mất phúc thiên đàng”. Tâm tình đơn thành của em là của mỗi chúng ta. Có lúc chúng ta tươi trẻ và xinh đẹp như thiên thần. Có lúc chúng ta ngã sa và đáng trách như tên quỉ sứ. Lại có những lúc chúng ta hối hả gõ cửa trời và vùng vẫy kêu cứu. Đáng khen! vì đây là dấu hiệu của cuộc chỗi dậy.

Lúc ấy Chúa thân hành đến nâng dậy, vỗ về, thanh tẩy và ban lại niềm vui đã mất. Chúa hành động liên lỉ và mãnh liệt lôi chúng ta ra khỏi vòng kiểm toả của tối tăm. Chúa không vui gì khi nhân loại sống trong sa đọa. Chúa dùng mọi hình thức: dậy dỗ, trách phạt, ngăm đe, những mong cảnh tỉnh và đưa chúng ta ra khỏi bến mê. Có thể khẳng định là Chúa đã dùng mọi phương tiện để ơn cứu độ tuôn tràn vào mỗi cá nhân. Tình trạng sa lầy và dậm chân tại chỗ là do chính chúng ta tạo mãi. Chúng ta xua đuổi và chối từ Chúa. Chúng ta trốn chạy và bịt tai trước những lời kêu mời thân thương và từ ái. Chúng ta đã bỏ lở cơ hội và quay lại tố là Chúa không thương, không giúp.

Trời vẫn ban mưa. Cứu Tinh vẫn đang mời mọc. Đất tiếp tục sinh hoa kết trái. Chỉ có lòng người khô cằn. Tiên tri Isaia cảnh cáo “đời ngươi tội lỗi. Chiếc áo dơ bẩn là công quả đời ngươi. Ngươi không cầu cũng không bám vào Chúa. Vậy ơn cứu độ bởi đâu đến?”

Chúng ta phải moi đá lên, thay đất tốt vào và nhận hạt giống tinh tuyền. Mưa rơi, hạt giống chuyển mình và phát triển. Lời Chúa văng giải quá dư. Tiếng Chúa vang dội khắp chốn. Hôm nay Chúa lại đến gõ cửa nhân loại. “Hãy tỉnh thức vì chủ đến vào lúc người không ngờ”.

Mùa Vọng này chúng ta không mong trời đổ mưa, không cầu mây chuyển Đấng Cứu Độ, không trách đất chưa sinh hoa trái và không phủ nhận vinh quang Chúa nữa. Trái lại chúng ta cầu cho bản thân mình được đứng lên, rướn cao hơn nữa và can đảm bước tới. Vạn sự phải khởi đầu nơi con người yếu đuối và đang sa lầy này. Phản tỉnh là cơ hội và điều kiện để chúng ta kín múc ơn trời, và không lãng phí tình Chúa như những năm trước. Những năm chỉ biết kêu trách và nài xin Chúa bố thí phép lạ nhưng không tích cực cộng tác, thiếu thiện chí thay đổi, chưa can đảm bước tới và không mở lòng đón Chúa.

Chúa trên cao đang giang tay đón chờ. Cửa trời luôn rộng mở. Lời Chúa luôn vang dội. Ơn thánh đang tuôn trào. Bao giờ chúng ta mới tỉnh mộng và sống đúng ý nghĩa mùa Vọng?

[Mục Lục]

Bài 18. HÃY TỈNH THỨC VÀ SẮN SÀNG

Nhìn vào xã hội, chúng ta thấy trong bất kỳ lãnh vực nào, người ta cũng cần phải đề cao cảnh giác, có nghĩa là phải tỉnh thức và sẵn sàng.

Thực vậy, trong một quốc gia, để bảo đảm an ninh và trật tự, chính phủ phải luôn tỉnh thức bằng cách đặt các đồn canh ở các nơi trọng yếu, rồi lại còn phải thường xuyên huấn luyện các binh lính, công an và cảnh sát.

Trong một gia đình, muốn không bị trộm cắp, nhất là vào những đêm tối trời, thì chúng ta cũng phải tỉnh thức. Ngoài ra, lại còn phải nuôi thêm chó để canh giữ, làm cổng cho kiên cố, đặt ổ khóa cho chắc chắn.

Trong phạm vi cá nhân cũng thế, muốn được khỏe mạnh, thì phải sắm sẵn mũ áo, phòng lúc trời mưa cũng như lúc trời nắng. Rồi lại còn phải sắm sẵn những thứ thuốc thông thường, phòng khi cảm cúm bất ưng.

Chúng ta có biết khẩu hiệu của hướng đạo là gì hay không? Tôi xin thưa: – Đó là khẩu hiệu:Sắp sẵn.

Powell, ông tổ của ngành hướng đạo, hồi còn là đại tá chỉ huy những cuộc chiến đấu tại Âu Châu, lần kia đoàn quân của ông có một ngàn mà phải đương đầu với địch quân những chín ngàn. Suốt trong 217 ngày đợi chờ được cứu viện, ông đã dùng chiến thuật nghi binh.

Ở mặt trận, ban ngày thỉnh thoảng ông cho nổ chỗ này chỗ khác mấy trái lựu đạn. Còn ban đêm trong một vùng rộng lớn, ông cho thắp đèn sáng tại nhiều nơi, mục đích là để đánh lừa đối phương, khiến chúng tin rằng ông có nhiều lính và hiện diện ở khắp nơi, chớ có liều lĩnh mà tấn công. Khi viện binh tới, ông mới tấn công đối phương và đã dành được thắng lợi.

Giữa lúc chính phủ nước Anh định nâng ông lên cấp bậc thống tướng thì ông lại rút lui, để rồi lập nên phong trào hướng đạo, huấn luyện các em thiếu nhi trở thành những người hữu ích cho bản thân, gia đình và xã hội.

Mục đích của hướng đạo là lúc nào cũng phải tỉnh thức và sẵn sàng để đương đầu với mọi hoàn cảnh.

Đối với việc linh hồn của chúng ta cũng vậy. Có nghĩa là chúng ta phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng bằng cách khử trừ tội lỗi, uốn nắn sửa đổi lại những tính hư tật xấu, đồng thời cố gắng thực hiện những hành động bác ái yêu thương, để bất kỳ lúc nào Chúa viếng thăm chúng ta cũng sẵn sàng thưa lên cùng Chúa:

- Lạy Chúa, này con xin đến.

Nhờ đó, chúng ta sẽ được Ngài đón nhận vào quê hương nước trời.

Để kết luận tôi xin kể lại một mẩu chuyện như sau:

Có một du khách, sau khi đã thăm viếng những danh lam thắng cảnh ở Thụy sĩ. Ông ta dừng chân trước một vườn hoa đẹp bao quanh một tòa lâu đài. Người làm vườn mừng rỡ đón chào. Ông bèn lên tiếng hỏi:

- Cụ ở đây đã bao lâu rồi?

- Thưa hai mươi bốn năm.

- Có lẽ chủ của cụ ít khi tới đây.

- Vâng, tôi chỉ mới gặp ông chủ có bốn lần mà thôi và lần cuối cách đây đã mười hai năm.

- Thế thì ai thưởng thức cảnh đẹp mà cụ phải tốn công chăm sóc kỹ lưỡng như vậy?

- Thưa ông, tôi làm như thể chủ tôi sẽ đến hôm nay, ngay bây giờ và ngoài ra, khi chăm sóc cho thửa vườn thì chính vợ chồng tôi được thưởng thức vẻ đẹp của muôn hoa trước hết.

Nếu như Chúa đến viếng thăm chúng ta ngay lúc này thì liệu chúng ta có tỉnh thức và sẵn sàng hay chưa?

[Mục Lục]

Bài 19. Hãy tỉnh thức

Lm. Nguyễn Hồng Giáo

Chúng ta bắt đầu một năm Phụng vụ mới. Đầu mỗi năm mới, khi chúng ta mừng Tết Nguyên Đán, chúng ta lại hướng nhìn về phía trước, nhìn về tương lai với niềm hy vọng là năm mới sẽ đem lại cho chúng ta những điều tốt lành hơn. Thì đầu năm Phụng vụ mới cũng vậy, Giáo Hội mời chúng ta hãy hướng nhìn về ngày Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô sẽ đến trong vinh quang để vĩnh viễn thiết lập Trời Mới Đất Mới cho loài người chúng ta.

Có điều đặc biệt là: thường thường trong những ngày đầu năm, chúng ta cố gắng quên đi cuộc sống hiện tại với bao nhiêu khó khăn thử thách và trách nhiêm nặng nề, thì hôm nay trong ngày đầu năm Phụng vụ, trong lúc gợi lại trước mắt chúng ta quang cảnh tươi sáng về ngày Chúa quang lâm, Giáo Hội lại không muốn để cho chúng ta cứ tha hồ mà sống trong mơ ước xa xôi, nhưng trái lại Giáo Hội đưa chúng ta về với cuộc sống và trách nhiệm hiện tại của mình và nhắc lại lời căn dặên của Chúa Giêsu: Hãy Tỉnh Thức!

Bài Phúc Âm khai mạc năm Phụng vụ mới này (Mc13, 33-37) chỉ vỏn vẹn có 5 câu mà đã có tới 4 lần dùng mấy tiếng “phải tỉnh thức”. Mở đầu là lời kêu gọi “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức!” Kết thúc cũng là lời kêu gọi tương tự: “Thầy nói với anh em đây và với mọi người là phải tỉnh thức!” Giữa hai lời kêu gọi đó, là một dụ ngôn ngắn kể rằng: Người kia sắp đi xa, ông để nhà lại cho đầy tớ trông coi, chỉ định cho mỗi người một việc và dạy phải tỉnh thức, vì không biết chủ về lúc nào. Sẽ không may mắn cho người đầy tớ nào, khi chủ bất thần trở về, bắt gặp còn đang ngủ mê.

Ngôi nhà mà ông chủ giao cho tôi tớ, chính là thế giới mà Đức Kitô giao cho loài người chúng ta chịu trách nhiệm. Chúng ta có bổn phận phải quản lý nó, cũng như chúng ta chịu trách nhiệm về chính cuộc đời mình và phải quản lý nó hợp với ý muốn của Thiên Chúa, theo lề luật bác ái yêu thương. Rồi ngày kia Chúa sẽ xuất hiện tỏ tường với chúng ta và Người sẽ xét xử chúng ta theo cách thức chúng ta hoàn thành trách nhiệm của mình như thế nào?

Chúng ta phải sống cuộc sống hiện tại trong sự tỉnh thức, nghĩa là không quên ngày Chúa đến (đến trong ngày tận cùng của thế giới và đến trong ngày cuối cùng của đời ta), và# vì hướng về Đức Kitô như thế mà tích cực dùng thời gian hiện tại để chuẩn bị cho tương lai vĩnh cữu của mình. Trong bài dụ ngôn này–cũng như trong dụ ngôn những nén bạc mà ông chủ giao cho các tôi tớ trước khi đi xa–chúng ta đều thấy nhấn mạnh tới trách nhiệm và tính chủ động của con người trong việc xây dựng Nước Trời và xây dựng hạnh phúc của mình.

Chúa Giêsu đã đến. Rồi Người đã ẩn mình đi khỏi con mắt xác thịt của loài người. Đến ngày Quang Lâm, Người sẽ lại xuất hiện tỏ tường trước mặt muôn dân. Trong thời gian Người giấu mình đi, chúng ta nhiều khi kêu trách Người sao như muốn bỏ mặc chúng ta. Nhưng sở dĩ Chúa ẩn mình đi như thế là Người tôn trọng chúng ta, vì muốn cho chúng ta nên người trưởng thành, biết sử dụng tự do, tính sáng tạo và thi thố tinh thần trách nhiệm. Làm sao con cái có thể lớn khôn khi cha mẹ cứ bám sát vào nó, lo lắng cho nó từng ly, từng tí? Dĩ nhiên là Chúa vẫn hiện diện và lo lắng cho chúng ta, nhưng có thể nói cách kín đáo, tế nhị, không bao giờ dành mất tự do và trách nhiệm của ta.

Nếu chúng ta theo Chúa chỉ cốt để tìm an ủi hoặc tìm sự an toàn trước cuộc đời đầy đau khổ, thì chúng ta không làm đẹp lòng Chúa và làm cớ cho người ta phê bình tôn giáo là ru ngủ. Cũng vậy, nếu chúng ta theo Chúa, để rồi lẫn trốn các trách nhiệm đối với xã hội, đối với anh chị em đồng loại, tức là chúng ta làm cớ cho người ta phê bình tôn giáo kìm hãm con người trong vòng ấu trĩ.

Có ba quan niệm sống có thể tạo ra một thái độ tiêu cực trước cuộc đời. Một là cho rằng chết là hết, không còn gì tồn tại: nếu quả thực mọi sự sẽ chấm dứt với cái chết nếu số phận người tốt, người xấu đều sẽ như nhau sau khi chết, thì người ta sẽ có lý mà lập luận rằng: Ta hãy ăn uống, vui chơi, hãy hưởng thụ giây phút hiện tại vì chết rồi sẽ chẳng còn gì!

Hai là tin vào thuyết định mệnh, nghĩa là tin rằng mọi sự đã được an bài sẵn và số phận của mỗi người đã được thần thánh định đoạt. Nếu thế thì con người chẳng cần và chẳng có thể làm gì nữa, mọi cố gắng đều vô ích. Ba là tin vào thuyết luân hồi (cuộc sống là một vòng luân chuyển, hết kiếp này qua kiếp khác), nếu kiếp này ta chưa đạt tới hạnh phúc thì ta sẽ chờ kiếp sau, khi ta được đầu thai lại. Dĩ nhiên thuyết luân hồi không đương nhiên dẫn tới tiêu cực, nhưng dù sao cũng không dành cho cuộc sống hiện tại một giá trị và tầm quan trọng quyết định đối với số phận mỗi người.

Khác với ba quan niệm trên, Kitô giáo dạy rằng Thiên Chúa thực sự giao cho ta chịu trách nhiệm về thế giới này và về sự thành công của cuộc đời chúng ta. Thời gian hiện tại là thời gian quyết định đối với số phận đời đời của chúng ta. Mỗi giây phút qua đi là không bao giờ trở lại. Thời giờ Chúa cho ta sống ở trần gian là vô cùng quý báu, đây là lúc chúng ta gieo mầm mống cho đời sống vĩnh cữu. Mỗi người thỉnh thoảng nên tự hỏi mình sử dụng thời giờ như thế nào?

Người kitô hữu sống cuộc đời hiện tại một cách rất nghiêm chỉnh, họ cố gắng làm phận sự ở đời một cách hết sức tích cực vì biết rằng đó là Thánh ý của Chúa và vì biết rằng hạnh phúc đời đời của mình đang được chuẩn bị ngay bây giờ. Đồng thời người kitô hữu luôn luôn hướng về Đức Kitô sẽ đến kiện toàn công cuộc cứu độ, họ biết rằng thế gian này, tuy là rất tốt đẹp, nhưng không phải là quê hương vĩnh cữu của mình. Họ sống cuộc đời trần gian cách hết sức nghiêm chỉnh như thể là sẽ mãi mãi ở đây (vì đó là Thánh ý của Chúa); đồng thời họ sẵn sàng rời bỏ mọi sự bất cứ lúc nào Chúa đến gọi họ ra đi.

Người kitô hữu giống như người học trò tốt ở trong ký túc xá. Suốt tuần anh ta học hành rất chăm chỉ, anh ta không làm biếng, không ngồi đó mà mơ mộng viễn vông, nhưng cuối tuần khi cha mẹ đến đón về nhà, thì anh ta càng vui sướng# Việc trông chờ ngày nghỉ cuối tuần trong gia đình không làm cho anh ta sao nhãng việc học hành, trái lại tăng thêm nghị lực cho anh ta.

Thời gian Mùa Vọng là thời gian Giáo Hội đặt chúng ta lại trong thái độ hy vọng, mong chờ và tỉnh thức. Người tỉnh thức là người luôn cố gắng và hăng say, họ thực thi những gì là chân thật, ngay chính và đáng quý chuộng, với tất cả nhiệt huyết, nổ lực cần cù và không trì hoãn. Đây là thời gian Giáo Hội muốn chúng ta sống hướng về ngày giờ Đức Kitô đến một cách ý thức hơn.

Khi chúng ta làm việc mà biết hướng về Đức Kitô thì chắc chắn có một cái gì đó thay đổi trong thái độ và cách thức làm việc của ta. Khi chúng ta đau khổ màbiết hướng về Đức Kitô thì sẽ có cái gì đó thay đổi. Khi chúng ta chiến đấu mà biết hướng về Đức Kitô thì cũng sẽ có cái gì đó thay đổi . Ngay cả khi ta vui chơi, giải trí cũng thế. Và trong mọi sự, mọi hoàn cảnh chúng ta đều có sự bình an.

Người ta kể chuyện rằng ngày kia Thánh Lu-y Gonzaga còn chơi với bạn bè, thình lình cha bề trên đến tập họp tất cả lại và hỏi thử: “Giả sử như chúng con đang chơi mà Chúa đến báo cho chúng con biết chúng con chỉ còn sống 5-10 phút nữa thôi, thì chúng con sẽ làm gì?”. Bấy giờ mọi người bổng trở nên căng thẳng. Người thứ nhất trả lời: ” Con sẽ đi gặp cha linh hướng” Người thứ hai nói:”Con sẽ vào nhà thờ cầu nguyện trước Nhà Tạm”. Riêng Lu-y vẫn bình thản trả lời:” Thưa cha, con sẽ tiếp tục chơi”.

Đó là câu trả lời của một đấng thánh và đáng lý mỗi người kitô hữu đều phải có thể trả lời như thế. Chơi đùa, giải trí cũng làm đẹp lòng Chúa nếu đó là việc phải làm theo nhu cầu đúng đắn hoặc theo bổn phận. Vậy không phải chỉ bằng đọc kinh, cầu nguyện, mà bằng cả yêu thương, đau khổ, lao động, nghỉ ngơi, giải trí, nghĩa là bằng cả cuộc đời mà chúng ta đón chờ Chúa và chuẩn bị cho hạnh phúc đời đời của chúng ta.

[Mục Lục]

Bài 20. Tỉnh thức trong an vui

Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng

  1. Tỉnh thức để nhận ra điều dữ.

Nói đến “tỉnh thức”, người ta thường liên tưởng ngay đến điều ngược lại, đó là “ngủ mê”. Khi nói đến “ngủ mê”, thường người ta nghỉ ngay đến cơn ngủ mê thể lý.

“Đêm tối của vật lý” thường là nguyên cớ cho những điều xấu xảy ra. Cụ thể là chuyện trộm cắp cùng với những việc bất chính. Người ở trong đêm tối không biết cách “giữ cho mình tỉnh thức”, chỉ biết ngủ vùi miên man, thì không thể an toàn được.

“Đêm tối tâm hồn” còn đáng sợ gấp vạn lần hơn. Vì “đêm tối tâm hồn” không có màu đen rõ rệt trong không gian và thời gian, không có sự phân biệt hay báo trước của ngày và đêm. Nhiều người đang ngủ vùi trong “đêm tối tâm hồn” mà vẫn tưởng mình đang ở trong ánh sáng. Từ đó, mới có sự lầm đường lạc lối. Nhiều người lao mình vào chỗ chết như những con thiêu thân, nhưng vẫn tưởng mình đang sống trong hạnh phúc. Nhiều chế độ đưa người dân đến chỗ cùng khổ, mà vẫn tự hào là chính nghĩa, nhiều thế lực đưa nhân loại đến họa diệt vong, mà vẫn cao rao nhân danh Công Lý!

Đạo đức suy đồi, phẩm giá con người bị hạ thấp, lối sống nô lệ bản năng… Đó là sự mê ngủ trong đêm tối tâm hồn.

Đó là những kẻ ngủ mê không còn thấy được những điều bất hạnh!

  1. Tỉnh thức để nhận ra điều lành.

Cuộc sống là cuộc hành trình tìm về hạnh phúc. Nhiều kẻ “ngủ mê” không hay biết những điều độc hại đang xâu xé tâm hồn, nhưng cũng có nhiều người ngủ mê không hay biết những điều hạnh phúc đang ở quanh ta, và có khi ở ngay trong chính ta.

Cứ lo nghĩ đến những điều xấu để tránh, mà không biết khám phá những hạnh phúc đích thực để tận hưởng làm sao ta vui sống?

“Tỉnh thức” không phải là lời răn đe, hù dọa, nhưng là một thái độ đi tìm lẽ sống đích thực. Vì Tin Mừng luôn là Tin Vui và là niềm hy vọng, và Tỉnh Thức, do đó, là Tỉnh Thức trong An Vui vì tin vào Tình Yêu của Thiên Chúa.

Có một câu chuyện vui thế này:

Có một cậu bé muốn được gặp Chúa. Cậu biết rằng phải đi cả một quãng đường rất dài mới có thể đến được nơi ở của Người, nên gói ghém mang theo bên mình những chiếc bánh Twinkie và cả sáu hộp nước trái cây, rồi bắt đầu cuộc hành trình.

Khi qua được khoảng ba dãy phố, cậu gặp một bà lão. Bà đang ngồi trong công viên, lặng nhìn đàn chim bồ câu đang ríu rít trước mặt. Cậu bé ngồi xuống cạnh bà và mở túi xách của mình ra. Cậu định uống một hộp nước trái cây, nhưng chợt để ý đến bà lão có vẻ đói, nên không ngần ngại mời bà một chiếc bánh. Bà cầm lấy và mỉm cười với cậu. Nụ cười của bà tươi tắn đến nỗi cậu bé muốn trông thấy một lần nữa, thế nên cậu mời bà một hộp nước trái cây. Bà lại cười với cậu. Cậu bé cảm thấy rất vui sướng!

Cả buổi chiều, hai bà cháu cứ ngồi bên nhau, vừa ăn, vừa mỉm cười, nhưng không nói với nhau lời nào.

Khi trời bắt đầu sẩm tối, cậu bé cảm thấy mệt nên đứng dậy ra về. Đi được một lúc, cậu quay trở lại, chạy đến bên bà và ôm bà. Bà cười với cậu – một nụ cười đẹp nhất mà cậu từng được thấy.

Cậu bé bước vào nhà, mẹ cậu rất đỗi ngạc nhiên vì nét mặt tươi tắn hân hoan của cậu. Bà hỏi: “Hôm nay có chuyện gì mà trông con vui thế?”.

Cậu trả lời: – “Con đã ăn trưa với Chúa mẹ à! Mẹ biết không, Người có nụ cười tuyệt nhất mà con từng thấy!”

Trong khi đó, bà lão cũng về tới nhà, khuôn mặt rạng rỡ niềm vui.

Con trai bà lấy làm ngạc nhiên trước niềm hạnh phúc rạng ngời trên gương mặt bà: – “Mẹ ơi, hôm nay có chuyện gì khiến mẹ vui đến thế?

Bà hân hoan: – “Mẹ ăn bánh Twinkie trong công viên với Chúa. Con biết không, Người còn bé hơn là mẹ nghĩ nữa cơ đấy!”.

  1. Tỉnh thức trong an vui.

Để không còn ngủ mê, để thức tỉnh đúng ý nghĩa, ta cần Ánh Sáng Tin Mừng soi rọi vào mọi ngỏ ngách cuộc đời, vào mọi ngỏ ngách tâm hồn ta. Và như thế, có nghĩa là ta luôn “Tỉnh Thức và Cầu Nguyện”

Tỉnh thức để tránh cạm bẫy kẻ thù và được vui mừng đón tiếp Chúa viếng thăm ta. Nếu tỉnh thức chỉ để tránh được cạm bẫy kẻ thù mà không được đón tiếp Chúa, thì tỉnh thức đó chẳng có ý nghĩa gì. Đó là một sự “an toàn” vô nghĩa!

Trong một cuộc tập dượt tác chiến, viên sĩ quan chỉ huy dặn dò:

- “Trong khi lâm trận, các anh em phải biết ngụy trang. Ngụy trang càng tốt, mức an toàn càng cao! Ngụy trang sao cho “địch không thể thấy ta mà ta thấy địch”.

Và các tân binh bắt đầu ngụy trang để tập trận.

Sau cuộc tập trận, khi điểm danh, thiếu một anh chiến sĩ. Đồng đội chia nhau đi tìm.

Cuối cùng, họ cũng tìm ra anh lính “mất tích” đó. Nguyên nhân là anh tân bình này ngụy trang quá sức kỹ, kỹ tới mức “Địch không thấy anh, mà anh cũng không thấy địch!”. Anh nằm “an toàn” trong cái ổ ngụy trang kín mít của anh, không thấy gì bên ngoài, nên không hay biết cuộc tập trận đã kết thúc rồi!

Lạy Chúa,

Xin cho con biết chuẩn bị những gì cần thiết nhất,

trong tận đáy lòng con,

để tiếp rước Chúa,

với niềm vui vô tận.

Cho môi miệng con biết tung hô:

“Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa Ít-ra-en

đã viếng thăm cứu chuộc dân Người”. Amen.

[Mục Lục]

Bài 21. Khao khát Chúa

PM Cao Huy Hoàng

Mở đầu Mùa Vọng, Chúa Giêsu tha thiết kêu gọi chúng ta hãy “tỉnh thức và cầu nguyện”. “Các con hãy coi chừng, hãy tỉnh thức và cầu nguyện, vì các con không biết lúc nào chủ về” (x.Mc 13, 33-37)

Mỗi người đang có một ước mơ, một khát vọng trong lòng. Có thể, không ai hiểu ai. Nhưng không ai sống mà không khát vọng. Đời người là một Mùa Vọng. Chỉ tiếc là, có những khát vọng làm cho con người ra ra hư đốn.

Chẳng hạn:

Có ai ngờ được người đang có quyền có tiền lại đang khát chia nhau một phần lợi lộc béo bở nếu cùng nhau toa rập bán được một lô đất ăn cắp. Họ bất chấp công lý, đạo đức, luật pháp, miễn là thỏa cơn khát quyền lực, cơn khát tài sản!

Có ai ngờ được người đang có nhà cao cửa rộng, xe hơi bóng loáng lại khát đổi nhà đổi xe cho sang trọng hơn giữa những người vô gia cư, bất hạnh, què quặt… đang lê la cuộc đời trước mắt mình, dưới chân mình.

Hôm nay, được mời đi chơi với các đại gia, nhìn thấy người ta quá giàu có, sang trọng, tiêu xài thoải mái, vui chơi thỏa thích, em tôi nhắn về cho tôi tin nầy: “Khi người ta quá đầy đủ, còn nhớ đến Thiên Chúa nữa không?” Lặng đi mấy phút, tôi tạ ơn Chúa vì em đang nhớ đến Chúa giữa cuộc du lịch, giữa khu du lịch ĐN ồn ào, sôi động. Tôi trả lời: “Em lầm rồi, họ chưa đầy đủ đâu. Còn khát lắm. Ai biết?”.

Có ai ngờ được người đang có một cuộc sống thiêng thánh lại khát những điều mê muội thấp hèn. Trong đó, có tôi, có bạn, có tất cả những Kitô hữu, không kể thành phần nào, vẫn không tránh khỏi nghiêng chiều về những thực tại thấp hèn, phù du, chóng vánh.

Tin mừng khai mạc Mùa Vọng nhắc nhớ cho chúng ta về khát vọng chính đáng nhất trong cuộc đời: Khát Chúa ngự trị trong căn nhà tâm hồn bé nhỏ, vì chỉ có Chúa mới làm cho chúng ta thỏa cơn khát vô biên.

“Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi. Hồn tôi mới được nghỉ ngơi an bình” (Tv 61)

Thánh Augustin: “Chúa là khát vọng của lòng tôi, tôi sẽ khắc khoải cho đến khi được an nghỉ trong Chúa”.

Có thể nói đoạn sách của Isaia và Thánh Vịnh 79, đáp ca hôm nay đã để cho chúng ta mẫu gương Khát Chúa rất quí giá:

Dân Chúa tha thiết kêu xin: “Xin Chúa băng qua các tầng trời mà ngự xuống” (Is. 63) để phục hồi những gì đã tàn hoang, “xin Chúa thương trở lại, tự trời cao xin nhìn coi và thăm viếng vườn nho này. Xin bảo vệ vườn nho mà tay hữu Ngài đã cấy, bảo vệ ngành nho mà Ngài đã củng cố cho mình” (x. TV 79).

Khát vọng của Dân Chúa là một khát vọng chính đáng, một khát vọng thánh thiện: khát vọng Chúa nhìn xem, bảo vệ, củng cố công trình Ngài đã thiết lập: “vườn nho” Giáo Hội mà Chúa đã ươm trồng, “nhà cửa” linh hồn, thân xác, đức tin mà Chúa đã để lại cho chúng ta quản lý trông nom.

Như vậy,

Khát vọng chính đáng của chúng ta là khát vọng Chúa phục hồi con người chúng ta để sống đúng với danh nghĩa, với tư cách là con cái của Ngài mà chúng ta đã vì những khát vọng bất chính mà đánh mất.

Khát vọng chính đáng ấy là khát vọng Chúa đến ngự giữa tâm hồn, giữa gia đình chúng ta, cộng đoàn chúng ta, để Ngài can thiệp vào đời sống chúng ta: nhìn xem, bảo vệ, củng cố Giáo Hội cơ bản của Ngài.

Khát vọng chính đáng ấy, thiết tưởng, không phải là khát vọng đối đầu thành công với thế lực gian tà của ma quỷ, nhưng là khát vọng làm chứng cho công lý cho sự thật, thức tỉnh những con người mê muội, cải tạo những con người bị ma quỷ giáo dục sớm nhận ra uy quyền của Thiên Chúa.

Khát vọng chính đáng ấy không phải là khát vọng Chúa sẽ ra tay đàn áp những người đàn áp, Chúa sẽ phỉ nhổ nhục mạ những người phỉ nhổ nhục mạ, Chúa sẽ xử luật rừng với người chơi luật rừng… nhưng là để Chúa phục hồi lại nhân phẩm tồi tệ của những con người kia cũng là con cái của Chúa, kẻo uổng công trình Chúa cứu chuộc.

Khát vọng chính đáng ấy là khát vọng nên công chính cho mình và cho mọi người, cho xã hội, cho đất nước, cho cả những người đang chìm ngập trong bất công, gian tà, bạo lực.

Khát vọng chính đáng ấy là khát vọng tỉnh thức trước những nguy cơ làm cho chúng ta xa cách Chúa, tỉnh thức trước nguy cơ Satan hóa bản thân, gia đình, đất nước chúng ta.

Để thực hiện được khát vọng chính đáng, “Khát Vọng Chúa”, khát vọng nên công chính, Thánh Phaolô kêu gọi chúng ta: dừng chân ngay những hành vi ám muội, bất chính; xóa bất công xây bình an trong lòng; mặc lấy khí giới ban sự sống; và sống công minh như giữa ban ngày. (x.Rm 13,1-14). Bởi vì, chúng ta đã và đang có những khát vọng bất chính rồi ra dững dưng ơ hờ trước lời kêu gào thống thiết với khát vọng chính đáng của dân Chúa khắp nơi nơi.

Biết không phải dễ dàng mà chúng ta buông bỏ những khát vọng bất chính, biết đôi khi khát vọng bất chính lại len lấn ẩn tàng ngay trong những hành vi tưởng như là công chính, cho nên, Thánh Phaolô lại khuyên chúng ta hãy dùng nguồn trợ lực quí giá là ân sủng của Thiên Chúa và yên tâm, kiên vững kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô: “Vì chưng, trong Ngài, anh em được tràn đầy mọi ơn: ơn ngôn ngữ và ơn hiểu biết, đúng như Chúa Kitô đã minh chứng nơi anh em, khiến anh em không còn thiếu ơn nào nữa trong khi mong chờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tỏ mình ra. Cũng chính Ngài sẽ ban cho anh em bền vững đến cùng, không có gì đáng trách trong ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ngự đến”. (1 Cr 1, 3-8)

Thiết nghĩ, khao khát Chúa, mỏi mòn khao khát Chúa, tuyệt đối khao khát Chúa, khát vọng nên công chính, khát khao hết hiệp với Chúa Giêsu, là biết tỉnh thức và cầu nguyện vậy.

Cụ Chu, người xướng kinh trong nhà thờ ở Gx tôi đã yếu liệt bỏ ăn bỏ thuốc cả tuần nay. Anh em đến thăm cụ và đọc kinh xin ơn chết lành. Sau giờ kinh, chuyện trò với cụ. Cụ vui vẻ nói “Xin Chúa đến rồi, mà mấy hôm nay Chúa bận quá. Để từ từ Chúa sắp xếp. Chờ thôi. Chắc thứ sáu”. Thiết nghĩ, cụ đã làm gương cho chúng tôi về việc tỉnh thức, cầu nguyện và sẵn sàng đón Chúa đến.

Lạy Chúa, xin cho chúng con tỉnh thức trước những nguy cơ xa cách Chúa và luôn biết khát khao kết hiệp với Chúa từng phút giây trong cuộc đời, để Chúa làm chủ mọi ý tưởng, lời nói, việc làm của chúng con.

Nguyện xin Vị Tôi Tớ Chúa Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận, Người đã luôn tỉnh thức cầu nguyện trong tù, phù hộ cho chúng con. Amen.

[Mục Lục]

Bài 22. VUI MỪNG VÀ HY VỌNG

  1. Lam Thy ĐVD.

Năm Phụng vụ là chu kỳ thời gian biểu trưng sự can thiệp của Thiên Chúa trong lịch sử nhân loại, từ khởi nguyên đến tận cùng. Với nhãn quan thần học nhìn vào lịch sử cứu độ, Phụng vụ không chỉ tưởng niệm các biến cố đã xảy ra, nhưng còn hiện tại hóa, làm cho các biến cố ấy đi vào đời sống đương đại một cách mầu nhiệm, đồng thời còn hướng vọng tới tương lai trông chờ ngày thẩm định chung cuộc. Nói cách cụ thể, năm Phụng vụ diễn tả lịch sử cứu độ, và tuyệt đỉnh của lịch sử này là mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Giê-su Ki-tô. Khởi đầu năm Phụng vụ là mùa Vọng (mùa trông đợi Chúa đến lần thứ nhất), kết thúc là lễ Chúa Ki-tô Vua Vũ Trụ (ngày Chúa quang lâm lần thứ hai – ngày chung thẩm). Như vậy có thể hiểu Mùa Vọng cũng là thời gian tĩnh tâm và sám hối trong suốt cuộc đời, để người Ki-tô hữu thể hiện niềm tin và hy vọng (“Tôi tuyên xưng có một Phép Rửa, tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau.” – Kinh Tin Kính) vào ngày chung thẩm sẽ được hưởng “sự sống muôn đời” (Mt 25, 46).

Ở Việt Nam trước đây (khoảng 70 – 80 năm) vẫn gọi mùa Vọng là mùa Át. Đó là tiếng gọi tắt của từ La-tinh “Adventus”. Theo ngôn ngữ cổ, “Adventus” có một nghĩa chuyên môn, chỉ sự “đến” (viếng thăm một vùng dân cư) của vua chúa thời phong kiến, về mặt tôn giáo thì “Adventus” biểu thị ý nghĩa một thần minh “đến” với cộng đồng tín hữu. Giáo Hội quy định 4 Chúa nhật mở đầu năm Phụng vụ nhắm tới sự tỉnh thức đón chờ Chúa “đến”: Chúa nhật thứ nhất đề cao thái độ tỉnh thức và sẵn sàng đón chờ Chúa quang lâm. Các Chúa nhật còn lại thì trưng dẫn những mẫu gương của những người đón chờ Chúa Cứu Thế. Chúa nhật thứ hai và thứ ba giới thiệu thánh Gio-an Tẩy Giả, người dọn đường cho Chúa đến không những chỉ bằng lời giảng sám hối và thực hiện phép rửa, mà còn bằng chính cuộc đời khổ hạnh và trung trực của mình (bị Hê-rô-đê giết – xc Mc 6, 17-29). Chúa nhật thứ tư được dành cho Đức Maria. Mẹ Maria giữ một vai trò rất lớn lao, rất quan trọng trong lịch sử cứu rỗi, đến nỗi, nếu giả thiết không có Đức Mẹ, chắc chắn nhân loại đã khác.

Do đó, Mẹ Maria được Phụng vụ giới thiệu là nguồn ơn thiêng vô tận của Thiên Chúa. Mẹ là mạch suối không bao giờ cạn của Thiên Chúa. Mẹ chính là “Đức Mẹ Mùa Vọng” của Hội Thánh Chúa (Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm trong tập sách “Giải Nghĩa Lời Chúa” đã viết: “Cuộc đời của chúng ta sẽ nên như cuộc sống của Người và khuôn mặt của Giáo Hội sẽ đang vẽ lại dung nhan Ðức Mẹ Mùa Vọng.”). Như vậy cả 4 Chúa Nhật đều nêu bật tinh thần trông chờ hy vọng Chúa Cứu Thế đến trong thế gian. Vì thế Giáo Hội Việt Nam dịch tiếng Adventus là Vọng, 4 Chúa nhật trông đợi Chúa đến là mùa Vọng. Mùa Vọng là mùa trông chờ, hy vọng Đức Vua Giê-su Ki-tô “đến” lần thứ nhất (giáng trần cứu thế) và Người lại “đến” lần thứ hai trong vinh quang ở ngày chung thẩm (tận thế). Sách Giáo lý HTCG (số 524) chỉ rõ: “Hằng năm khi cử hành phụng vụ Mùa Vọng, Hội Thánh hiện tại hóa niềm mong đợi Đấng Mê-si-a: khi hiệp thông với việc chuẩn bị lâu dài cho Đấng Cứu Thế đến lần thứ nhất, các tín hữu làm bừng sáng niềm khát khao mong mỏi Người đến lần thứ hai (x. Kh 22,17).”

Lúc con người đặt trọn vẹn niềm tin của mình vào Thiên Chúa, thì lời hứa (Giao Ước) của Thiên Chúa chính là sự trao ban hy vọng cho con người. Dân Chúa thời Cựu Ước đã tin tưởng mãnh liệt vào lời hứa “chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en.” (Is 7, 14). Mùa Vọng chính là dấu chỉ thời điểm Cựu Ước trông chờ và hy vọng vào Lời Hứa của Thiên Chúa, và Lời Hứa ấy đã được thực hiện cách đầy hơn 2000 năm tại hang đá Bê-lem. Bước sang thời Tân Ước thì các tín hữu được nhắc nhở “chúng ta hãy tiến lại gần Thiên Chúa với một lòng chân thành và một đức tin trọn vẹn, vì trong lòng thì đã được tẩy sạch mọi vết nhơ của lương tâm, còn ngoài xác thì đã được tắm rửa bằng nước tinh tuyền. Chúng ta hãy tiếp tục tuyên xưng niềm hy vọng của chúng ta cách vững vàng, vì Đấng đã hứa là Đấng trung tín” (Dt 10, 22-23).

Với “một đức tin trọn vẹn… tiếp tục tuyên xưng niềm hy vọng vào Đấng đã hứa là Đấng trung tín”, đó phải chăng là “Đức Tin và Hy Vọng” như Đức Thánh Cha Bê-nê-đic-tô XVI đã dạy: “SPE SALVI facti sumus ” – chúng ta được cứu rỗi nhờ hy vọng, Thánh Phao-lô đã nói như thế với dân chúng thành Rô-ma, cũng như với chúng ta (Rm 8, 24). Theo niềm tin Ki-tô, “ơn cứu chuộc” – hay ơn cứu độ – không chỉ đơn giản là một điều được trao ban. Ơn cứu chuộc được ban cho chúng ta theo nghĩa là chúng ta đã được trao cho hy vọng – một niềm hy vọng đáng tin cậy, qua đó chúng ta có thể đối diện với thực tại của chúng ta: thực tại mà cho dù là cam go đi nữa cũng có thể sống được và chấp nhận được nếu nó dẫn đến một mục đích, nếu chúng ta có thể được bảo đảm về mục đích này, và nếu mục đích này cao cả đến mức biện minh được cho nỗ lực của cuộc hành trình.” (Thông điệp “Spe Salvi – Được Cứu Rỗi nhờ Hy Vọng”, số 1)

Điều đó cho thấy giữa đức tin và hy vọng luôn có một tương quan mật thiết, đến độ có thể nói “Đức Tin là Hy Vọng” (“chúng ta cần lắng nghe gần hơn một chút với chứng tá của Thánh Kinh về hy vọng. “Hy vọng”, thực ra, là một từ chủ yếu trong Thánh Kinh – đến mức trong nhiều đoạn những từ “đức tin” và “hy vọng” dường như có thể hoán chuyển cho nhau. Vì thế Thư Do Thái liên kết chặt chẽ “sự viên mãn của đức tin” (Dt 10, 22) với “sự tuyên xưng cách quả quyết niềm hy vọng của chúng ta” (Dt 10, 23). Cũng thế, trong thư Thứ Nhất khi Thánh Phêrô khích lệ các Kitô hữu hãy luôn luôn sẵn sàng đưa ra câu trả lời liên quan đến logos – ý nghĩa và lý do – cho niềm hy vọng của họ (1Pr 3, 15), từ “hy vọng” là tương đương với “đức tin”. – Tđ “Spe Salvi”, số 2).

Rõ ràng, con người khi đã “ngộ” ra được niềm tin của mình đặt đúng nơi chốn, đúng đối tượng, sẽ có nguồn hy vọng được thắp sáng bởi chính niềm tin ấy. Hy vọng đã có, nhưng chủ thể mang niềm hy vọng ấy cần phải biết trau giồi, củng cố cho hy vọng ngày một bền chặt, vững mạnh hơn. Bẳng cách nào? Chính là bằng cách kiên trì đưa niềm tin ấy vào trong suy tư và hành động (“Đức tin không thể hiện ra hành động là một đức tin chết” – Gc 2,17 ), để đưa niềm tin ấy từ khách thể trở thành máu thịt của chủ thể, ở chỗ biến niềm tin thành một trong những nhân đức nhân bản của con người, với Ki-tô hữu thì đó là nhân đức đối thần: Đức Tin.

Nói thì có vẻ đơn giản, nhưng đụng vào thực tế muôn hình ngàn trạng, muôn chiều muôn hướng của cuộc sống con người hiện nay, thật không dễ chút nào. Đức tin bị nghiêng ngả, hụt hẫng, chao đảo cũng là vì thế. So sánh thế kỷ XXI với thế kỷ I cũng chẳng khác bao nhiêu, có khác chăng là ở chỗ sự hời hợt trong đức tin và niềm hoài nghi trong hy vọng còn trầm trọng hơn. Rõ ràng, muốn “ngộ” được hy vọng, chắc chắn phải cậy trông vào ơn soi sáng, dẫn dắt bởi Chúa Thánh Thần. Nói cách khác, phải biết cầu nguyện, bởi vì “Bối cảnh thiết yếu đầu tiên cho việc học hỏi hy vọng là cầu nguyện. Khi không còn ai lắng nghe tôi nữa, Chúa vẫn nghe tôi. Khi tôi không còn có thể tâm sự hay kêu cầu được với ai, tôi luôn luôn có thể thưa với Chúa. Khi không còn ai giúp tôi biết xử sự thế nào trước nhu cầu hay mong đợi vượt quá khả năng hy vọng của con người, Chúa có thể giúp tôi. Dù tôi bị đắm chìm ngập lụt trong cô liêu hoàn toàn…; nếu tôi cầu nguyện thì tôi không bao giờ hoàn toàn đơn côi.” (Tđ “Spe Salvi”, số 32).

Một tấm gương sáng chói trong bài học “cầu nguyện” là Đức cố Hồng Y Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận “một người tù trong 13 năm, trong đó có 9 năm bị biệt giam, đã để lại cho chúng ta cuốn sách nhỏ quí giá: “Những Lời Cầu Nguyện của Niềm Hy Vọng”. Trong vòng 13 năm tù đầy, trong một tình trạng hầu như là tuyệt vọng, sự kiện là ngài có thể lắng nghe và thân thưa với Chúa đã trở nên một quyền năng hy vọng gia tăng cho ngài, khiến ngài, sau khi ra khỏi tù, đã trở nên một chứng nhân hy vọng cho dân chúng trên toàn thế giới – chứng nhân của một niềm hy vọng lớn lao không tàn lụi ngay cả trong những đêm đen của cô liêu” (Tđ “Spe Salvi”, số 32). Sở dĩ Đức Hồng y FX Nguyễn Văn Thuận viết cuốn sách “Những Lời Cầu Nguyện của Niềm Hy Vọng” (như lời khen tặng của Đức Thánh Cha Bê-nê-đic-tô XVI trong Tđ nêu trên), chính là vì ngài đã chọn cho mình khẩu hiệu “Gaudium et Spes – Vui Mừng và Hy Vọng” (2).

Chỉ nội một việc Đức Hồng Y chấp nhận ở tù cũng đủ cho biết ngài kiên trì với Đức Tin Ki-tô Giáo như thế nào. Và đó chính là việc làm chứng nhân cho Tin Mừng Cứu Độ của Đức Giê-su Ki-tô. Tin Mừng Cứu Độ dành cho toàn thể nhân loại, thì không lý gì người sẵn sàng chiu đau khổ để làm chứng cho chân lý ấy, lại chỉ nghĩ về mình. Vâng, “Niềm hy vọng của chúng ta luôn luôn thiết yếu là niềm hy vọng của người khác: chỉ như thế nó mới thật sự là niềm hy vọng của cả tôi nữa. Là Ki-tô hữu chúng ta không bao giờ được tự giới hạn mình để chỉ biết hỏi: làm sao để tôi được cứu rỗi ? Chúng ta cũng phải hỏi : tôi phải làm gì để cho người khác có thể được cứu chuộc, và để cho đối với họ ngôi sao hy vọng có thể tỏa sáng trên trời ? Như thế tôi cũng đã làm hết sức mình cho việc cứu rỗi của chính tôi” (Thông điệp “Spe Salvi”, số 48).

Đức Hồng y Phan-xi-cô Xa-vi-ê lấy khẩu hiệu “Vui mừng và Hy Vọng” từ chủ đề Hiến Chế về Mục Vụ “Gaudium et Spes” của Công Đồng Va-ti-ca-nô II, khi ngài nhận chức Giám mục năm 1967. Ngài chọn phương châm này, không những vì trong trái tim ngài luôn có niềm vui và hy vọng trong mọi chuyện xảy đến với ngài, nhưng cũng vì ngài muốn nói rằng, ngài thấy giáo huấn của Công Đồng Va-ti-ca-nô II chứng tỏ Giáo Hội đang mở cửa ra để đến với thế giới loài người với tinh thần “Vui mừng và Hy vọng”. Vì thế, khi chính thức chấp nhận việc mở hồ sơ phong chân phước cho Đức Hồng y Fx Nguyễn Văn Thuận, ĐTC Bê-nê-đic-tô XVI đã nói: “Đức Hồng y Thuận là một con người của Hy Vọng, Ngài sống bằng Hy Vọng, Ngài phổ biến Hy Vọng cho tất cả những ai Ngài gặp. Chính nhờ năng lực thiêng liêng này mà Ngài đã chống lại được tất cả những khó khăn thể lý và luân lý.“

Con người ta sống ở đời không thể không có hy vọng, dù cho đó là một con người không có niềm tin tôn giáo, thì niềm hy vọng của họ vẫn là cái tương lai của cuộc đời họ mà họ luôn mong ước, hy vọng được tươi sáng và hạnh phúc. Kinh nghiệm cho thấy trong cuộc đời này, mọi chuyện, mọi sự rồi cũng sẽ qua đi, sẽ mai một… và điều còn lại duy nhất cần phải có đó là niềm hy vọng vào cuộc sống vĩnh cửu ở đời sau. Chính niềm hy vọng này là động lực giúp người Ki-tô hữu sống một cuộc sống luôn hướng về một ngày mai tươi sáng trong niềm tín thác vào Đấng Cứu Thế. Nói cách cụ thể “Chúng ta có thể nghĩ một cách hợp lý rằng số phận mai sau của nhân loại nằm trong tay những người có khả năng trao cho hậu thế những lý do để sống và để hy vọng.” (Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng “Gaudium et Spes”, số 31). Để thắp sáng niềm hy vọng vào tương lai, nền Giáo dục Ki-tô giáo là phải luôn luôn và mãi mãi hỗ trợ, thúc đẩy cho đức tin trưởng thành nơi mỗi Ki-tô hữu, không phân biệt tuổi tác, giới tính, thành phần, giai cấp. Giáo dục Ki-tô giáo phải làm sao cho – ở nơi mỗi Ki-tô hữu – ĐỨC TIN là niềm HY VỌNG viên mãn và bất diệt

Tóm lại, có tin thì mới hy vọng, bởi chính “Đức Tin là Hy Vọng”. Vậy thì người Ki-tô hữu còn đợi gì mà không thể hiện niềm “Hy Vọng” vào “Đức Tin” của mình qua hành động dọn đường cho Chúa đi, bằng cách bạt phẳng gò đống chia rẽ, phát quang chông gai hận thù, san bằng gập ghềnh ghen tị, và với một kiệu hoa rực rỡ hào quang Bác Ái trong Chân Lý đón Chúa vào lòng. Và như thế, thì tại sao chúng ta lại không duy trì 4 tuần Mùa Vọng bằng cả cuộc lữ hành trần thế này, để làm hành trang trông đợi ngày Chúa quang lâm lần thứ hai? Vâng, xin hãy bắt đầu ngay từ bây giờ, ngay từ hôm nay ngẩng cao đầu “tuyên xưng niềm hy vọng của chúng ta cách vững vàng” (Dt 10, 23), để mạnh dạn bước vào MÙA VỌNG – MÙA TRÔNG ĐỢI CHÚA ĐẾN – MÙA TRÔNG ĐỢI CUỘC SỐNG VĨNH CỬU mai sau. Ước được như vậy.

Ôi! Lạy Chúa! “Từ trần gian con ngước trông lên Chúa ơi, cầu xin hãy mưa Ðấng Thiên sai Chúa ơi, nghe lời van thiết tha. Ngày và đêm con vẫn van xin Chúa thương, Người ban ơn cứu rỗi yêu đương bốn phương cho đoàn con ngóng chờ. TK. 2- Xin mưa xuống trần gian Ðấng Cứu Tinh, phá mọi nghịch mưu xấu xa tội lỗi. Xin ban xuống đời con Chúa chí linh, nối lại tình thương thế gian Nước trời.” (TCCĐ “Nguyện Mùa Vọng”).

[Mục Lục]

Bài 23. PHẢI CANH THỨC !

  1. Trần Đình Phan Tiến

Tâm tình mùa vọng là tâm tình mong chờ, tâm tình mong chờ là tâm tình tỉnh thức.

Vâng, kính thưa quý vị ! Mùa vọng là gì ? Thưa, Mùa Vọng là mùa mong chờ Đấng Cứu Thế đến. Ngày hôm nay, có lẽ ai trong chúng ta cũng không còn lạ lẫm gì với Mùa Vọng. Vì Mùa Vọng, nói cho dễ hiểu là Mùa chuẩn bị Mừng Lễ Chúa Giáng Sinh. Nhưng thật sự, Mùa Vọng là Mùa mà chúng ta sống trong cùng với tâm trạng của những người Israel năm xưa. Họ khát khao Đấng Cứu Thế, một Vị Minh Quân của họ, mà Thiên Chúa là Cha Nhân từ đã Hứa với Tổ Phụ của họ. Nhưng, Mùa Vọng của người Công Gíao có hai đặc tính. Một là mong chờ, chuẩn bị tâm hồn mừng đón Lễ Chúa Giáng Sinh cách đây hơn 2014 năm (cách chung), và đồng thời cũng chuẩn bị tâm hồn mong chờ Chúa Giêsu đến với từng cá nhân một trong cuộc đời mỗi người (cách riêng).

Tin Mừng Chúa Nhật 34 năm A, Lễ Chúa Giêsu- Kitô Vua vũ trụ, tuần vừa qua, cho chúng ta một quang cảnh cũng như ý nghĩa về ngày phán xét chung. Về Vị Vua Tình Yêu, Vị Vua ấy chỉ dựa vào một tiêu chuẩn là Tình Yêu mà phán xử.

Thì hôm nay, Chúa Nhật I Mùa Vọng cho chúng ta một quang cảnh cũng như ý nghĩa về ngày phán xét riêng. Ngày giờ mà Chúa đến không như một sự bao dung, nhân nhượng, như thời giờ hiện tại mà chúng ta đang sống, có nghĩa là từ giai đoạn Chúa Giêsu Giáng Sinh lần thứ I, cho đến khi chúng ta được Chúa đến trong ngày giờ riêng của mỗi người, ngày giờ công thẳng, chứ không còn hòa hoãn nữa. Theo đó, ý nghĩa lời Chúa hôm nay thật dễ hiểu, ngắn gọn, nhưng thật quan trọng. Vì nếu chúng ta không biết tỉnh thức thì chúng ta sẽ bị thiệt thòi. Vậy, Mùa Vọng nhắc nhớ sự tình thức, làm thế nào để tình thức? Lời Chúa hôm nay cho chúng ta biết sự tỉnh thức giống như một người lính canh, vì không biết khi nào ông Chủ trở về, mà thấy người lính ấy tình thức, thì phúc cho anh ta. Điều đó có ý nghĩa như thế nào?

Thưa, trước hết chúng ta hãy xem xét chân dung một người tỉnh thức theo ý nghĩa Tin Mừng.

- Luôn nhận ra tiếng Chúa nói trong tâm hồn mình và làm theo.

Điều đó có ý nghĩa như thế nào? Thưa, nếu tôi hay lêu lỏng, thì nay tôi hồi tâm lại. Nếu tôi hay rượu chè, thì nay tôi bỏ bớt, hay bỏ hẳn sự chè chén say sưa. Nhân ra tiếng Chúa nói trong tâm hồn mình, và tôi chỉ tìm và đáp lại tiếng Chúa thôi.

- Khi nhận ra tiếng Chúa và đáp trả bằng thái độ tích cực thì ơn Chúa sẽ tác động không ngừng.

Cố gắng phấn đấu dù sự cố gắng nhỏ nhoi. Vì con người luôn thức tỉnh là con người có Chúa ở cùng. Khi chúng ta biết đặt Chúa là tất cả, là trọng tâm trong tâm hồn thì lúc đó chúng ta sẽ nhận ra ánh sáng và sẽ được nâng đỡ để bước theo.

- Phải tin cậy ơn Chúa là sức mạnh vô giá, là thuẫn đỡ vô song mà không có thế lực nào lấn át. Không có thế lực tà thần nào làm cho chúng ta phải thất bại. Vì chính Lời Chúa Giêsu hôm nay nói vối tất cả mọi người, chứ không riêng gì các tông đồ (Mc 13, 37).

Nếu chúng ta biết lắng nghe và đón nhận Lời Chúa, thì Lời Chúa sẽ sáng soi cho chúng ta. Vì chúng ta không thể tình thức, nếu không có Lời Chúa trong tâm hồn. Lời Chúa là sức mạnh, là thuẫn đỡ nâng cho chúng ta.

Khởi đi từ bài đọc I hôm nay, (Is 63, 16b -17; 19b ; 64, 2b -7). Chúng ta thấy dân Israel sau khi đã bất trung với Thiên Chúa đã nhìn nhận Ngài là Cha nhân lành, vì những nhân vật dù là tổ phụ, tiên tri, hay người lãnh đạo cũng chỉ là người thay mặt Thiên Chúa dẫn đường, chứ không thể thay thế Thiên Chúa được. Vì các vị ấy cũng sẽ qua đi theo thời gian, nhưng Thiên Chúa thì hằng hữ, vĩnh hằng cùng với thời gian và hiện hữu trong thời gian cùng với con người cách chung và riêng. Vì Ngài là Thiên Chúa.

Bài đọc II thánh Phao-lô cho chúng ta biết (1Cr 1, 3- 9), Thiên Chúa đã ban cho chúng ta hết mọi ân sũng, đến nỗi không còn thiếu một ân huệ nào mà chúng ta không được nhận lãnh, đó là Đức Kitô- Giêsu. Đấng mà chúng ta đang mong đợi Người mặc khải vinh quang trong ngày sau hết.

Thánh Vịnh 62, 2-9 hôm nay cho chúng ta biết : Tâm hồn khao khát Chúa : “Kẻ từ bỏ những công việc tối tăm mờ ám, ấy là người tỉnh thức chờ mong Chúa”.

Lời Thánh Vịnh cho chúng ta biết, sự tỉnh thức là sự sáng láng của những công việc minh bạch, những tâm hồn tràn đầy tình yêu thương. Chúa Giêsu đã dùng một hình ảnh dễ hiểu để giáo huấn cho chúng ta về một ý nghĩa cao siêu. Để dễ hiểu và bổ túc cho Lời Chúa hôm nay, chúng ta hãy nhớ một câu Lời Chúa trong một bối cảnh mà Chúa Giêsu cũng nhắc các môn đệ tỉnh thức và cầu nguyện vì tinh thần tuy hăng hái, nhưng xác thịt thì nặng nề. Như vậy, tuy sự tỉnh thức mà hôm nay Tin Mừng cho chúng ta biết theo nghĩa siêu nhiên, nhưng chúng ta vẫn còn lệ thuộc trong thân xác, vì vậy, sử tỉnh thức của tâm hồn cũng cần có sự hợp tác của thân xác nữa.

Lạy Chúa Giêsu ước gì trong thời gian mùa vọng là mùa tỉnh thức theo sự căn dặn của Chúa. Xin cho mỗi người chúng con biết tỉnh thức mà bước theo Chúa hằng ngày trong cuộc sống. Để những bất xứng của chúng con được vơi đi, và ân phúc càng tăng theo. Vì Chúa chính là tất cả mọi ân phúc từ Thiên Chúa là Cha ban cho chúng con. Amen./.

[Mục Lục]

Bài 24. CANH THỨC VÀ CẦU NGUYỆN ĐỂ ĐÓN CHÚA

Lm. Đan Vinh

  1. HỌC LỜI CHÚA
  2. TIN MỪNG: Mc 13,33-37
  3. Ý CHÍNH:

Mùa Vọng là thời kỳ các tín hữu chuẩn bị tâm hồn đón mừng đại lễ Giáng Sinh, kính nhớ Con Thiên Chúa xuống thế lần thứ nhất. Đồng thời, đây cũng là thời kỳ Hội Thánh hướng lòng trí các tín hữu trông đợi Đấng Cứu Thế sẽ đến lần thứ hai vào ngày tận thế. Trong Tin mừng hôm nay, Đức Giê-su kêu gọi các môn đệ phải luôn tỉnh thức và canh thức, để đợi chờ Người sẽ trở lại ban ơn cứu độ trong ngày tận thế.

  1. CHÚ THÍCH:

– C 33-34: + Khi ấy, Chúa Giê-su phán cùng các môn đệ: Đây là lúc Đức Giê-su đang ngồi trên núi Cây Dầu đối diện với Đền Thờ, để giảng dạy các môn đệ. Tin Mừng trước đó có kể tên bốn môn đệ là các ông: Phê-rô, Gia-cô-bê, Gio-an và An-rê (x. Mc 13,3). + Coi chừng: Là cảnh giác đề phòng. Các môn đệ phải đề phòng những tien tri giả sẽ mạo danh Chúa đến để lừa gạt họ (x. Mc 13,6.22). Phải đề phòng trước những tình huống khó khăn sẽ xảy ra trong thời cuối cùng như: Sẽ bị người thân bắt nộp cho quan quyền, bị hành hạ đánh đòn, và có thể còn bị giết chết nữa (x. Mc 13,9-13). + Tỉnh thức và cầu nguyện: Là thái độ phải có của người môn đệ. Họ không được mê ngủ, nhưng phải luôn canh thức và kết hiệp với Chúa bằng việc chuyên cần cầu nguyện, để khỏi bị bất ngờ khi Chúa đến. + Cũng như người kia trẩy đi phương xa: Trẩy đi phương xa ám chỉ việc Đức Giê-su sau khi sống lại sẽ lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha và sẽ trao sứ mệnh rao giảng tin mừng cho các môn đệ (x Mc 16,15). + Ra lệnh cho người giữ cửa phải canh thức: Người giữ cửa ám chỉ các môn đệ hay các tín hữu. Mỗi người chúng ta có bổn phận phải canh thức, luôn ở trong tư thế sẵn sàng bằng cách chu toàn các việc bổn phận được trao phó cách nghiêm túc.

– C 35-37: + Vậy anh em phải canh thức: Canh thức là tỉnh thức và sẵn sàng đón chủ về vào bất cứ giờ nào.+ Lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng: Các môn đệ Chúa phải tránh ngủ mê khi Chúa đến vào mọi thời điểm trong đêm. + Nói với hết mọi người: Qua các môn đệ, Đức Giê-su muốn nhắn nhủ mọi người cũng phải biết canh thức thì mới được ơn cứu độ. Canh thức cụ thể là phải tin Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế Con Thiên Chúa; Phải được tái sinh bởi nước và Thánh Thần trong bí tích Rửa Tội; Phải lắng nghe Lời Chúa và sẵn sàng tuân theo ý Chúa; Phải sống giới răn yêu thương cụ thể như Kinh Thương người đã dạy.

  1. CÂU HỎI: 1) Trong Mùa Vọng, Hội thánh dạy các tín hữu phải làm gì? 2) Đối với người tín hữu hôm nay, canh thức cụ thể đòi chúng ta phải làm gì?
  2. SỐNG LỜI CHÚA
  3. LỜI CHÚA: Chúa phán: “Hãy canh thức và cầu nguyện” (Mc 13,33):
  4. CÂU CHUYỆN: PHẢI CHUẨN BỊ SẴN SÀNG ĐÓN CHÚA ĐẾN BẤT NGỜ

1) Giờ chết đến bất ngờ: Mới đây các nhà khảo cổ đã tìm ra một thành phố cổ xưa đã bị chôn vùi trong lòng đất hàng ngàn năm, do núi phun lửa bất ngờ trút nham thạch xuống thành phố. Rất nhiều người đã bị chôn vùi trong lớp nham thạch nóng bỏng và chết ngay lập tức. Nhiều xác chết đã được đào thấy bị chết cứng trong những tư thế khác nhau: Có người chết khi đang nằm trên giường, người khác chết khi đang ngồi chung quanh bàn ăn. Đặc biệt người ta cũng đào được xác của một người lính chết trong tư thế đứng gác, tay anh đang cầm một cây giáo dài.

2) Phải sẵn sàng đón Chúa đến: Tại một trường dòng kia, một hôm thầy giám thị muốn kiểm tra lòng đạo đức của học trò, nên trong lúc nghỉ giải lao giữa giờ chơi, thầy đã tập trung các em học sinh lại và hỏi: “Giả như có một vị thiên thần từ trời hiện đến cho biết chỉ còn đúng một giờ nữa là sẽ tới tận thế mà mọi người chúng ta đều phải chết, thì ngay bây giờ các em phải làm gì để được hưởng ơn cứu độ?”. Các em học sinh lần lượt trả lời. Em thì nói: “Thưa thầy, em sẽ vào nhà nguyện để dọn mình xưng tội chung lần sau hết thật sốt sắng !”. Em khác nói: “Thưa thầy, em sẽ đem số tiền dành dụm bấy lâu đi phân phát cho các bệnh nhân nghèo trong khu xóm cạnh nhà trường”… Đến lượt Lu-i Gông-gia-ga khi được hỏi, đã trả lời như sau: “Còn em ư? Em cứ tiếp tục cuộc chơi !”. Cậu nói thêm: “Sở dĩ em cứ chơi dù sắp bị chết là vì em đã luôn trong tư thế chuẩn bị sẵn sàng ngay từ lúc sáng sớm khi vừa thức dậy. Đã từ lâu em vâng lời mẹ dạy là khi nghe chuông báo thức, em phải lập tức trỗi dậy qùi gối xuống đất để dâng ngày mới cho Chúa như sau: “Lạy Thiên Chúa Cha của con. Con xin tạ ơn Cha đã cho con qua đêm bình an. Con xin dâng ngày mới hôm nay cho Cha. Xin Cha ban ơn Thánh Thần giúp con luôn chu tòan công việc bổn phận và phục vụ Chúa Giê-su hiện thân trong mọi người.-AMEN”.

  1. SUY NIỆM:

Trong Tin Mừng hôm nay, có tới bốn lần Đức Giê-su đã kêu gọi các môn đệ phải canh thức. Lời kêu gọi này càng tha thiết hơn nữa khi nó được nói với chúng ta trong khung cảnh của ngày Chúa Nhật thư nhất Mùa Vọng hôm nay, ngày mở đầu cho một Năm Phụng Vụ mới của Hội thánh. Vậy canh thức là gì và tại sao phải canh thức ? Canh thức đòi chúng ta phải làm những việc gì cụ thể để đón Chúa đến ban ơn cứu độ ?

1) Thực sự cái chết luôn rình rập và thường đến cách bất ngờ:

Đọc báo chí, xem truyền hình, chúng ta thấy cái chết dường như luôn hiện diện ở khắp nơi và có thể xảy đến trong mọi lúc:

– Ngày 28/09/2014 vừa qua, núi lửa Ontake nước Nhật bất ngờ phun trào làm ít nhất 40 người bị thương và nhiều người mất tích. Vào cuối năm 2013 một cơn siêu bão là Hai-yan đã gây ra thiệt hại khủng khiếp cả về người và tài sản, sau khi quét qua miền trung nước Philippines. Cách đây ít hôm, vào tối 22/11/2014 một trận động đất mạnh 6,3 và 6,8 độ richter đã tấn công Nhật Bản và Trung Quốc gây nhiều thương vong. Chỉ sau 12 giờ, trận động đất đã làm ít nhất 4 người thiệt mạng, 54 người bị thương, 25.765 ngôi nhà bị hư hại, hơn 6.200 người phải sơ tán.

– Rồi cuộc chiến tranh triền miên giữa Ít-ra-en và Pa-lét-tin cũng gây bao đau thương cho hai dân tộc: Vào trung tuần tháng 8/2014 vừa qua đã có gần 2.000 người thiệt mạng. Những cuộc pháo kích mưa bom liên tiếp dội xuống giải Ga-da làm hơn 9 567 người thương vong, hơn 400.000 người Pa-lé-tine phải bỏ nhà cửa đi lánh nạn. Nhiều tòa nhà và đường xá bị san bằng và đổ nát, có gia đình nọ gồm 8 người đã bị bom giết sạch khi đang ẩn núp trong nhà mình.

– Dẫu vậy không có mấy người trong chúng ta lại nghĩ mình cũng có thể bị chết bất ngờ để canh thức và sẵn sàng đón điều tệ hại ấy. Lời Chúa hôm nay cảnh báo chúng ta: Hãy canh thức để đón giờ chết đến bất ngờ của riêng mỗi người và chung của toàn thể nhân loại trong ngày tận thế.

– Canh thức hay tỉnh thức không phải là không ngủ, vì trái với tự nhiên. Nhưng canh thức là ngủ trong tình trạng sẵn sàng thức giấc và kịp thời xử lý khi có tình huống bất lợi xảy ra, giống như ông chủ nhà ban đêm phải cảnh giác để tránh không cho trộm đào ngạch khoét vách nhà mình (x Mt 24,43). Canh thức cũng là phải biết tiên liệu để chuẩn bị kịp thời ứng phoc hữu hiệu với những tình huông bất ngờ như năm cô trinh nữ khôn ngoan chuẩn bị đầy dầu cho cây đèn của mình (x Mt 25,4).

2) Canh thức luôn đi đôi với lời cầu nguyện:

– Canh thức là nhận ra Chúa Giê-su và phục vụ Người đang hiện thân nơi những kẻ đói khát, rách rưới, yếu đau, lỡ đường, ở tù… sẽ được Người xếp vào hạng chiên ngoan. Còn những kẻ không thực thi bác ái cụ thể sẽ bị xếp vào loại dê độc ác, sẽ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để được hưởng sự sống muôn đời (x. Mt 25,31-46).

– Nhưng nguyên thái độ tỉnh thức cũng chưa đủ, tâm tình tỉnh thức còn đòi mỗi tín hữu chúng ta phải biết năng cầu nguyện như Chúa Giêsu đã kêu gọi: “Hãy canh thức và cầu nguyện kẻo sa cơn cám dỗ” (Mc 14,38). Chúng ta thường bị cám dỗ ngủ quên trong những thành công, trong các tiện nghi hưởng thụ, mà quên đi giờ chết sẽ đến bất ngờ. Bước vào Mùa Vọng, người tín hữu cần mang tâm tình thức tỉnh và cầu nguyện như Chúa Giêsu đã mời gọi để chờ đợi Chúa đến vào giờ chết mỗi người, hoặc đến chung trong ngày cùng tận của thế giới. Chúa sẽ đên bất ngờ, nên thái độ chờ đợi Chúa đến đúng nghĩa nhất là phải luôn canh thức và cầu nguyện, kẻo lỡ khi Chúa đến bắt gặp chúng ta đang mê ngủ (x. Mc 13,33-37).

– Nói cách cụ thể: Chúng ta phải luôn mang cây đèn đức Tin trên tay. Nhưng cây đèn ấy cần chứa đầy dầu ân sủng đức Cậy nhờ chuyên cần thực hành Lời Chúa và năng dự lễ và rước lễ mỗi ngày. Nhờ đó, chúng ta mới có thể tỏa sáng đức Mến qua thái độ năng nghĩ đến người khác, lời nói dễ thương, hành động quên mình phục vụ tha nhân vô vụ lợi, sẵn sàng quảng đại chia sẻ cơm bánh thuốc men cho người nghèo đói bệnh tật… Nhờ đó ánh sáng của chúng ta sẽ chiếu tỏa ra trước mặt thiên hạ, để họ thấy những việc tốt lành chúng ta làm mà ngợi khen Cha chúng ta trên trời” (x Mt 5,16).

3) Chúng tôi phải làm gì ? :

– Mỗi người sẽ quyết tâm dấn thân hy sinh để chu toàn việc bổn phận, như người đầy tớ được chủ trao trách nhiệm quản gia để đúng giờ phân phát lương thực cho gia nhân (x. Lc 12, 42-46). Nếu ông chủ trở về mà thấy người quản gia đang cần mẫn làm việc như vậy thì ông sẽ cất nhắc anh ta lên làm việc lớn là coi sóc gia sản của ông. “Nhưng nếu tên đầy tớ xấu xa ấy nghĩ bụng : “Chủ ta còn lâu mới về. Thế rồi hắn bắt đầu đánh đập các đồng bạn và chè chén với những bọn say sưa. Chủ của tên đầy tớ ấy sẽ đến vào ngày hắn không chờ, vào giờ hắn không biết. Và ông sẽ loại hắn ra, bắt chung số phận với những tên đạo đức giả: Ở đó, người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (x. Mt 24,47-50).

– Canh thức là cố gắng làm lợi thêm những nén bạc Chúa trao, cụ thể là sử dụng các tài năng Chúa ban như ca hát, nói hay, khéo tay… để làm vinh danh Thiên Chúa và mưu ích cho phần rỗi các linh hồn. Kẻ chỉ biết đào lỗ chôn giấu nén bạc được chủ trao, thể hiện qua thái độ lười biếng làm việc lành… thì khi giờ chết đến anh ta sẽ bị chủ thu lại tất cả những tài năng và sẽ bị loại khỏi Nước Trời đời đời.

- Canh thức là sống đức tin trong giây phút hiện tại: Mỗi tín hữu chúng ta cần sống tình con thảo với Chúa Cha từ lúc sáng sớm khi vừa thức giấc đến tối trước khi nghỉ đêm. Luôn tỉnh thức như người tôi tớ luôn thao thức để tìm làm theo ý Thiên Chúa muốn như lời cầu trong kinh Lạy Cha: “Chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, y Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” (Mt 6,9).

– Trong những ngày này, chúng ta cần tham dự các buổi tĩnh tâm và dọn mình lãnh bí tích giao hòa với quyết tâm khử trừ tội lỗi ra khỏi cuộc sống của mình và tích trữ một kho tàng quý giá là các việc bác ái yêu thương, để bất kỳ lúc nào Chúa kêu gọi, chúng ta cũng thưa được với Người: “Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Chúa”.

– Thánh Phao-lô khuyên các tín hữu Rô-ma như sau: “Anh em thân mến. Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậyhãy loại bỏ những việc làm đen tối và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho đúng đắn như người đang sống giữa ban ngày: Không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng” (Rm 13,12-14). Chân phước SÁC-ĐỜ PHU-CÔ (Charles de Foucault) cũng khuyên các tu sĩ của ngài như sau: “Bạn hãy sống như thể bạn sẽ phải chết vào đêm hôm nay”.

- Cây siêu ngả theo chiều nào sẽ đổ theo chiều ấy: Người ta thường nói: “Sống sao chết vậy”. Muốn có được một cái chết bình an lành thánh, muốn cho giờ chết không phải là giờ đau khổ bất hạnh thì ngay từ bây giờ, chúng ta phải lo sống thật nghiêm túc tốt lành. Đối với những ai không tin có đời sau, hãy nghe lời khuyên khôn ngoan của nhà tư tưởng Pascal: “Có đời sau hay không, điều ấy thật khó chứng minh rõ rệt. Tuy nhiên tôi vẫn tin có đời sau là hơn. Vì dù không có, thì tin như vậy cũng không gây thiệt hại gì. Còn giả như có, thì thái độ không tin quả là bất hạnh. Cho nên tin và sống niềm tin ấy, chính là thái độ của một người khôn ngoan”.

Tóm lại: Trong Mùa Vọng này, mỗi người chúng ta sẽ vừa thực hành các bác ái kèm theo lời càu nguyện như sau: “Maranatha, Lạy Chúa, xin hãy đến!” (Kh 22,20).

  1. THẢO LUẬN: Giả như ngay lúc này mà mọi người chúng ta đều bất ngờ phải chết, thì chúng ta sẽ chết trong tư thế nào: đang cầu nguyện hay đang làm việc bổn phận? đang đánh bài, đang lo kiếm tiền hay đang hưởng thụ khoái lạc xác thịt bất chính?
  2. LỜI CẦU:

– LẠY CHÚA GIÊ-SU. chúng con là những người yếu đuối và bất toàn. chúng con thường tỏ ra ích kỷ, tự mãn và hay khinh thường khích bác tha nhân, nhất là đối với bạn bè đồng trang lứa nhưng lại có nhiều ưu điểm hơn chúng con. chúng con cũng thường hay ganh tị và kết án bất công những ai chúng con không ưa thích.

– LẠY CHÚA. trong những ngày Mùa Vọng này, xin cho chúng con biết luôn tỉnh thức và kết hiệp với Chúa. cho chúng con luôn chiếu tỏa ánh sáng tin yêu trước mặt người đời, hầu bất cứ khi nào Chúa đến, cũng thấy chúng con đang canh thức, đang chu toàn nhiệm vụ Chúa trao, đang có sẵn dầu ơn thánh trong cây đèn đức tin của mình, đang thực thi thánh ý Thiên Chúa… nhờ đó, chúng con hy vọng sẽ được Chúa thương đón nhận vào dự tiệc vui muôn đời trong Nước Chúa.

  1. X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.

Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

[Mục Lục]

Bài 25. Bài giảng của Lm. Giuse Đinh Tất Quý

“Hãy tỉnh thức.” (Mc 13,37)

Hôm nay bắt đầu đổi mùa: Mùa Vọng

  1. Vọng là gì?

Người ta vẫn thường nói: Hy vọng, thất vọng.

Mong chờ một Tin Vui sẽ có: Hy vọng.

Mong chờ một tin vui nhưng không bao giờ có: Thất vọng.

Vua Fédéric nước Đức xưa tính mỗi năm chim sẻ sẽ ăn hết 2.000.000 thùng lúa. Ông cho mở chiến dịch bài trừ chim sẻ – Toàn dân hưởng ứng: mỗi đầu chim sẻ là một phần thưởng. Ông hy vọng một vụ mùa bội thu. Nhưng rồi ông thất vọng vì lúc lúa mới trổ bông thì từng đoàn, từng đoàn sâu bọ khổng lồ bò ra ăn sạch những cây lúa mới trổ bông trên quê hương đất nước của ông. Ông hối hận: “Giá những con chim sẻ kia không bị tiêu diệt thì chúng sẽ giúp ông thanh toán những đàn sâu bọ này… Nhưng bây giờ thì đã quá muộn rồi. Thế là hy vọng biến thành thất vọng.

Ngược lại trong Tin Mừng… Người mù ăn xin ở vệ đường… Khi nghe tin Chúa đi qua… Anh mong gặp được Chúa với hy vọng Chúa sẽ chữa cho anh. Anh đã gặp được Chúa và Ngài đã cho anh được sáng mắt. Hy vọng của anh đã biến thành sự thật…

  1. Khi lập ra Mùa Vọng Giáo Hội muốn nói với chúng ta điều gì?

Giáo Hội muốn nói tới một tin vui: Tin Vui ấy chính Chúa cũng đã nói trước. Đó là ngày Chúa trở lại trong vinh quang.

Vọng là mong chờ cái Ngày Vinh quang đó của Chúa.

Thánh Cyrillô thành Giêrusalem cắt nghĩa vấn đề này như sau: “Những gì liên hệ tới Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta thường diễn ra hai lần. Hai lần Người sinh ra: một lần bởi Thiên Chúa từ trước muôn đời; một lần bởi đức Trinh nữ vào lúc thời gian viên mãn.

Hai lần Người xuống thế: lần thứ nhất thì lặng lẽ như hạt mưa rơi xuống lông chiên; Còn lần thứ hai, chắc chắn sẽ xẩy ra trong tương lai thì oai hùng rực rỡ.

Lần giáng lâm thứ nhất, Người được bọc tã đặt nằm trong máng cỏ; lần thứ hai người khoác cẩm bào là muôn ánh hào quang.

Lần thứ nhất. Người vác Thập Giá chẳng nề nhuốc hổ; còn lần thứ hai, Người chiến thắng khải hoàn có thiên thần hộ tống.

Vậy chúng ta đừng dừng lại ở lần giáng lâm thứ nhất mà phải đợi chờ lần giáng lâm thứ hai. Lần thứ nhất chúng la đã tung hô Người: Chúc tụng đấng ngự đến nhân danh Chúa thì chúng ta sẽ lập lại y như thế trong lần thứ hai. Lúc đó chúng ta sẽ cùng với các thiên thần ra nghênh đón Chúa mà thờ lạy và tung hô: Chúc tụng đấng ngự đến nhân danh đức Chúa”

  1. Như vậy Mùa Vọng là mùa giúp ta nhìn về tương lai… Tương lai huy hoàng của Chúa Giêsu Chúa chúng ta.

Một thắc mắc có thể đặt ra ở đây? Mùa Vọng có ăn nhằm gì với việc mừng lễ Giáng Sinh hay không? Và việc mừng lễ Giáng sinh sẽ đem lại những ích lợi cụ thể nào?

Vâng! Mùa Vọng nào cũng được kết thúc bằng lễ Giáng Sinh. Giáo Hội đặt ra Mùa Vọng trước lễ Giáng Sinh không đơn thuần chỉ là nhắc lại một việc của quá khứ. Vâng! Không phải đơn giản như vậy. Không phải nhắc lại một quá khứ như một kỷ niệm nhưng như một biến cố, biến cố cống hiến cho chúng ta một kinh nghiệm sống và một hướng đi giúp chúng ta chuẩn bị ngày Chúa Kitô lại đến để hoàn tất chương trình cứu độ của Ngài một cách tốt đẹp hơn. Như vậy mỗi lần chúng ta mừng lễ Giáng sinh là mỗi lần chúng ta có kinh nghiệm thêm về việc gặp Chúa trong cuộc sống hôm nay để tiến dần đến việc chiếm hữu được Chúa trong vinh quang của Người. Và đó là ý nghĩa chính của Mùa Vọng

  1. Vậy thì chúng ta phải sống tâm tình Mùa Vọng như thế nào?

Trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa đã chỉ dẫn cho chúng ta. Chúa bảo chúng ta: “Hãy tỉnh thức.” (Mc 13,37)

* Tỉnh thức có nghĩa là đừng mê ngủ.

Lý do vì Chúa thường hay đến vào ban đêm nghĩa là vào lúc ta không ngờ mà đời sống của chúng ta lại thường có những bóng đêm ru ta ngủ say mê khiến ta không gặp được Chúa.

Có những bóng đêm của tôi lỗi. Chúng giam cầm hồn ta trong những giấc ngủ bạc nhược khiến ta không còn đủ sức thoát ra.

Có những bóng đêm của danh vọng ru hoàn ta ngủ quên trên vinh quang chói lọi. Vinh quang giống như ngọn đèn đốt cháy biết bao đời thiêu thân.

Có những bóng đêm của xác thịt cuốn ta vào giấc mộng lạc thú. Lạc thú giống như chiếc lưới rất mềm mại, rất nhẹ nhàng, nhưng rất hiểm độc. Linh hồn đã sa vào khó có thể thoát ra.

Có những bóng đêm của thói ích kỷ chỉ biết sống cho bản thân mình. Ích kỷ giống như một hang sâu, càng đi vào càng thấy tối tăm.

Có những bóng đêm của tiền tài bao phủ ta trong giấc mộng giàu sang phú quí. Chìm đắm trong giấc mộng, ta sẽ chẳng nghe được bước chân Chúa đi qua.

* Tỉnh thức cũng có nghĩa là tỉnh táo phân định.

Chúa đến rất âm thầm và rất bé nhỏ. Người không đến với cờ quạt trống phách tưng bừng, nhưng đến trong âm thầm lặng lẽ. Người không đến trong uy nghi lẫm liệt của những vị vương đế, nhưng Người đến trong hiền lành khiêm nhường như một người phục vụ. Người không mặc gấm vóc lụa là, nhưng đơn sơ trong y phục dân dã. Người không đến như vị quan toà nghiêm khắc, nhưng như một người cha nhân hậu, một người bạn dễ thương dễ mến.

Người đang đến qua những con người hiền lành bé nhỏ quanh ta. Người đang đến trong những con người khốn khổ túng cùng. Người đang đến qua những khuôn mặt xanh xao hốc hác. Người đang đến trong những tấm thân gầy guộc. Người lẫn vào giữa đám đông vô danh. Người chìm mất trong số những kẻ bị loại ra ngoài lề xã hội. Người ẩn mình giữa đám người ăn xin đang lê bước khắp các nẻo đường cát bụi. Người đang rét run với cặp mắt ngơ ngác thất thần ở giữa những nạn nhân bão lụt. Phải tỉnh táo lắm mới nhận ra Người. Phải tỉnh thức lắm mới gặp được Người.

* Tỉnh thức không có nghĩa là cứ ngồi đó mà chở đợi. Tỉnh thức là bắt tay vào hành động.

Chúa như ông chủ đi vắng. Người cho ta được toàn quyền khi Người vắng nhà. Người giao trách nhiệm cho ta trông coi gia đình ta, giáo xứ ta, địa phương ta, đất nước ta và cả thế giới nơi ta đang sống. Vì thế, tỉnh thức là nhìn thấy những nhu cầu của anh em, và đáp ứng những nhu cầu đó. Tỉnh thức là dấn thân hy sinh phục vụ anh em trong quên mình.

Ngày kia có một khách du lịch dừng chân trước một biệt thự rất sang trọng cạnh một hồ nước trong xanh ở Thuỵ Sĩ, nhưng không phải trên con đường mà khách vãng cảnh thường qua lại. Khách du lịch gõ vào hàng rào sắt, tức thì một cụ già coi vườn ra mở cái cổng nặng nề vẫn đóng chặt. Sung sướng vì được thấy một người khách, cụ dẫn ông tham quan cả một khu vườn rộng lớn. Người khách hỏi:

– Cụ ở đây bao lâu rồi ?

– Thưa ông, tôi ở đây đã được hai mươi bốn năm.

– Chủ của cụ ít khi ngủ lại biệt thự này, có phải không? Cụ đã trông thấy ông ta mấy lần rồi ?

– Tôi đã trông thấy ông ấy bốn lần. Lần cuối cùng cách đây đã mười hai năm.

– Ông có viết thư cho cụ chăng ?

– Chẳng bao giờ.

– Thế ai trả công cho cụ ?

– Người quản gia của ông.

– Thế người quản gia này có năng đến đây không ?

– Tôi chưa hề thấy mặt ông. Ông ấy luôn liên lạc với tôi qua thư từ.

– Thế thì ai hưởng sự đẹp đẽ này ?

– Trừ vợ tôi và tôi thì không ai hưởng hết.

– Cụ à, tôi có cảm giác như là cụ coi sóc vườn này, sân hoa này, bãi cỏ này cách chu đáo, như là ngày mai ông chủ cụ sẽ đến vậy!.

– Ồ! Thưa ông, tôi phải làm như chủ tôi phải đến ngày hôm nay, vâng thưa ông, ngày hôm nay.

Vâng chúng ta hãy sống như là chủ – Chúa của chúng ta – đến với chúng ta ngay trong ngày hôm nay. Nếu chúng ta tỉnh thức như thế thì chắc chắn chúng ta sẽ không phải ngỡ ngàng và phần thưởng cho một người tỉnh thức sẽ nằm trong tay chúng ta.

[Mục Lục]

Bài 26. TỈNH THỨC CHỜ ĐÓN CHÚA ĐẾN

Ban Mục vụ Thánh Kinh & Ban Phụng tự TGP Sài gòn

“Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến” (Mc 13,33)

  1. CÁC BÀI ĐỌC

Mùa Vọng theo tiếng Latin là “adventus” có nghĩa là “đến”: “Chúa đến”. Để chờ đợi (vọng) Chúa đến, trong mùa này các Kitô hữu sống ba tâm tình: 1) chuẩn bị mừng lễ trọng Giáng Sinh, kính nhớ Con Thiên Chúa đã đến lần thứ nhất với loài người; 2) hướng lòng trông đợi Chúa Kitô sẽ đến lần thứ hai để phán xét và ân thưởng trong ngày tận thế; giữa hai tâm tình đó, còn có một tâm tình khác 3) sống tốt giây phút hiện tại với thái độ tỉnh thức và sẵn sàng. Các bài đọc Lời Chúa hôm nay thúc đẩy các Kitô hữu sống tốt ba tâm tình Mùa Vọng đã nêu trên.

  1. Bài đọc I (Is 63,16b-17.19b; 64,2b-8):

Trong bài đọc I, ngôn sứ Isaia đã tha thiết cầu nguyện xin Đức Chúa đến để cứu Dân Người khỏi tội lỗi, vì tin tưởng vào ân sủng hải hà của Thiên Chúa. Đoạn văn mở và kết thúc bằng cách nại vào tình thương mà Đức Chúa đã dành cho tổ tiên của Israel trong thời xuất hành, thời mà Đức Chúa đã chọn các chi tộc Israel làm gia nghiệp của riêng Người. Đây vừa là lời khẩn nguyện với Chúa nhưng cũng là lời nhắc nhở Dân về cội nguồn của mình. Trong hoàn cảnh hiện tại, ngôn sứ Isaia thúc giục dân thú nhận tình trạng tội lỗi của họ. Ông nhắc cảnh báo để Dân biết rằng Thiên Chúa đã bỏ rơi họ vì họ đã phạm tội và xa lìa Thiên Chúa. Họ đã trở nên như người nhiễm uế, khác nào chiếc áo dơ, cuộc sống của họ héo tàn như lá úa, và tội ác họ đã phạm tựa cơn gió cuốn họ đi. Chính tội lỗi làm cho dân lạc xa đường lối Thiên Chúa và vì thế Thiên Chúa đã quay mặt với họ bằng việc bắt họ phải đi lưu đày ở Babylon. Họ thực sự đáng bị Thiên Chúa trừng phạt như thế, nên lúc này họ cần phải thú nhận tội lỗi để dược Chúa đến cứu thoát.

Với đoàn dân từ đất lưu đày hồi hương, Isaia (đệ III) thấy Giêrusalem bị hoang tàn đổ nát, nên ông cầu xin Thiên Chúa “xé trời mà ngự xuống” để cứu Dân. Khi kêu cầu như thế, vị ngôn sứ biết rằng trong thực tế Thiên Chúa đã luôn kêu gọi Dân trở về mà cầu khẩn danh Chúa để được phục hồi nhưng vì họ đã không lắng nghe. Nếu Dân biết sống theo thánh ý Thiên Chúa, đặt mình vào bàn tay Chúa như “đất sét trong tay người thợ gốm” thì chắc chắn sẽ được Chúa làm cho họ nên hoàn hảo, nghĩa là được cứu thoát. Đây cũng chính là tâm tình thứ 1 mà Giáo Hội muốn chúng ta sống trong Mùa Vọng: dọn lòng sám hối, ăn năn trở về, xưng thú các tội lỗi của mình để chuẩn bị mừng kỷ niệm biến cố Con Thiên Chúa làm người để cứu thoát chúng ta.

  1. Bài đọc II (1Cr 1,3-9):

Ngay trong phần đầu của thư gửi giáo đoàn Côrintô, Thánh Phaolô cổ võ các Kitô hữu trung thành với Đức Giêsu cho đến cùng. Ngài nhấn mạnh rằng nơi Ðức Kitô Giêsu, Thiên Chúa đã ban cho họ ân huệ phong phú về mọi phương diện: nghe lời Chúa và hiểu biết mầu nhiệm của Người, khiến họ không thiếu một ân huệ nào. Tuy nhiên trên thực tế, người Côrintô đã không đáp lại ân huệ đó của Thiên Chúa, khi họ sống chia rẽ, bè phái, kiện tụng, sống theo xác thịt, suy đồi luân lý… Chính vì thế, Thánh Phaolô nhắc họ nhớ lại ân huệ lớn lao mà Thiên Chúa đã ban cho họ và khuyên họ sống xứng đáng hơn với những ân huệ của Thiên Chúa trong khi chờ đợi ngày trở lại của Đức Giêsu Kitô. Nhờ vậy họ sẽ được vững chắc đến cùng, không ai chê trách được điều gì trong Ngày phán xét của Chúa. Đó chính là tâm tình thứ 2 mà Giáo Hội muốn chúng ta sống trong Mùa Vọng: hướng lòng trông đợi Chúa Kitô sẽ đến lần thứ hai để phán xét và ân thưởng trong ngày tận thế, bằng cách rời bỏ lối sống xác thịt theo kiểu người đời mà sống xứng đáng với những ân huệ mà Chúa đã ban cho mỗi người.

  1. Bài Tin Mừng (Mc 13,33-37):

Bài Tin Mừng hôm nay, thuộc phần Bài giảng về thời cánh chung trong Mc 13. Đoạn Tin Mừng hôm nay làm nổi bật tinh thần tỉnh thức sẵn sàng chờ đón ngày Chúa đến, vì ngày ấy đến rất bất ngờ, không người nào biết trước được. Trong bài Tin Mừng, hình ảnh ông chủ trẩy phương xa ám chỉ việc Đức Giêsu đã rời thế gian mà đi về với Chúa Cha, và hình ảnh ông chủ trở về ám chỉ việc Đức Giêsu sẽ lại đến trong ngày quang lâm. Giữa hai thời điểm này là quãng thời gian chờ đợi, nhưng cần chờ đợi cách tích cực. Nếu khi ông chủ trẩy phương xa đã để nhà lại, trao cho các đầy tớ mỗi người một việc, và ra lệnh cho người giữ cửa phải canh thức, thì họ vừa chờ đợi vừa phải làm trọn công việc bổn phận của mình, trong tinh thần sẵn sàng đón chủ nhà, vì họ không biết khi nào chủ sẽ trở về.

Bài Tin Mừng này được đặt trong bối cảnh của các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, khi họ nghĩ rằng Chúa sẽ đến nay mai. Vì thế, xảy ra hai trường hợp: hoặc là thụ động, không còn thực hiện các nghĩa vụ trần thế nữa mà chỉ chờ Chúa đến; hoặc ngược lại, vì chờ lâu quá nên chán nản và lơ là, không còn sẵn sàng tỉnh thức nữa.

Tin Mừng nhắc lại cho các Kitô hữu tiên khởi và cũng cho mọi người chúng ta hôm nay rằng Chúa sẽ đến nhưng không ai biết được giờ nào. Chính vì thế, cần có một thái độ tích cực trong việc chờ đón này. Đó là sống chủ động, bằng cách vẫn chu toàn các bổn phận của mình, đồng thời phải nghĩ tới yếu tố Chúa đến bất ngờ, để có thái độ và lối sống xứng đáng, trong tư thế sẵn sàng. Đó chính là tâm tình thứ 3 mà Giáo Hội muốn chúng ta thực hiện trong mùa vọng: sống tốt giây phút hiện tại với thái độ canh thức.

  1. GỢI Ý MỤC VỤ
  2. Lạy Đức Chúa,…xin Ngày mau trở lại. Lời này giúp chúng ta sống tâm tình thứ 1 của Mùa Vọng. Khi dân Israel đang sống trong tình cảnh bi đát của thời lưu đày, và ngay cả khi hồi hương, họ không con gì để bám víu, ngôn sứ Isaia đã giúp Dân sống tâm tình sám hối, nhìn nhận lỗi lầm của mình để được Chúa thương “xé trời ngự xuống” mà cứu thoát họ. Chúng ta có ý thức rằng để đón mừng Con Thiên Chúa từ trời xuống thế, chúng ta cần phải có thái độ ăn năn, dứt bỏ đường tà, đi theo đường lối Chúa? Chúng ta có sẵn sàng để Chúa tác động, như người thợ gốm uốn nắn cục đất sét để trở nên tác phẩm của ông, nghĩa là để Chúa tác động làm cho chúng ta trở nên người con Chúa hay không?
  3. Lời chứng về Ðức Kitô đã ăn sâu vững chắc vào lòng trí anh em, khiến anh em không thiếu một ân huệ nào, trong lúc mong đợi ngày Ðức Giêsu Kitô. Lời này giúp chúng ta sống tâm tình thứ 2 của Mùa Vọng. Quả thật, Mùa Vọng là mùa giúp chúng ta hướng về ngày Đức Kitô đến lần thứ hai trong vinh quang để mặc khải vinh quang của Người và làm cho ân huệ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta được viên mãn. Chúng ta đã nhận được ơn huệ phong phú từ Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô nhưng chưa đáp lại ân huệ đó cách xứng đáng, khi còn sống theo xác thịt: sống chia rẽ, bè phái, kiện tụng, suy đồi luân lý… Chúng ta có ý thức rằng chuẩn bị đón Chúa đến trong ngày lễ Giáng Sinh không chỉ bằng những hình thức bên ngoài như những hoạt cảnh công phu, hang đá nguy nga, đèn sao lộng lẫy, cây thông cao vút, quà cáp ngập phòng…, nhưng mà còn và quan trọng hơn là cần chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng để không ai có thể trách cứ chúng ta điều gì trong ngày Ðức Giêsu Kitô quang lâm?
  4. Trong Ðức Kitô Giêsu, anh em đã trở nên phong phú về mọi phương diện, phong phú vì được nghe Lời Chúa và hiểu biết mầu nhiệm của Người.Trong năm “Tân phúc âm hóa đời sống các giáo xứ và các cộng đoàn sống đời thánh hiến” 2015 này, chúng ta có để cho “Lời Chúa mà chúng ta đã được nghe” thấm nhập vào môi trường của các giáo xứ và dòng tu, đến với mọi thành phần trong các giáo xứ và dòng tu? Chúng ta có ý thức rằng mỗi người phải tự canh tân và để cho lời Chúa tác động mình trước khi giúp người khác thay đổi và làm cho Tin Mừng bén rễ nơi họ hay không?
  5. Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến. Lời này giúp chúng ta sống tâm tình thứ 3 của Mùa Vọng. Như các đầy tớ không biết lúc nào ông chủ đi xa trở về, thì chúng ta cũng không biết khi nào Chúa sẽ lại đến. Do đó, cần có thái độ tích cực là sống chủ động trong trạng thái chuẩn bị sẵn sàng, bằng cách vẫn chu toàn các bổn phận của mình trong cuộc sống hiện tại. Chúng ta có ý thức rằng khi nghĩ về ngày tận thế, cũng như nghĩ về cái chết đến bất ngờ sẽ giúp chúng ta biết cách sống thế nào cho phải lẽ, luôn tỉnh thức và sẵn sàng chứ không ngủ mê trong lối sống xác thịt và tội lỗi, hầu có thể kịp thời ra đón Chúa và được Chúa cho nhập đoàn với Người hay không?

III. LỜI NGUYỆN CHUNG

Chủ tế: Anh chị em thân mến! Giáo Hội cử hành Mùa Vọng hằng năm nhằm nhắc nhở người kitô hữu chúng ta phải luôn có thái độ tỉnh thức và sẵn sàng chào đón Chúa. Trong tâm tình hân hoan chờ mong Chúa đến, chúng ta cùng hiệp ý cầu nguyện:

  1. 1. “Ðiều Ta bảo cho các con, thì Ta bảo cho tất cả mọi người là: Hãy tỉnh thức!” Chúng ta cùng cầu nguyện cho các vị chủ chăn trong Hội Thánh luôn nêu cao tinh thần tỉnh thức sẵn sàng, hầu chu toàn tốt đẹp mọi trách vụ đã được Thiên Chúa ủy thác.
  2. 2. Ngôn sứ Isaia cầu khẩn: “Xin Chúa băng qua các tầng trời mà ngự xuống.” Chúng ta cùng cầu nguyện cho nhiều người trong thế giới hôm nay đang ngủ quên trong lối sống bon chen hưởng thụ biết nhận ra các nhu cầu tâm linh và khát khao tìm kiếm chân lý.
  3. 3. “Các con hãy tỉnh thức, vì các con không biết lúc nào chủ nhà trở về.” Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi kitô hữu, luôn ý thức chu toàn các bổn phận làm con cái Chúa qua các cử hành phụng vụ, tuân giữ lề luật Chúa và thực thi công bình bác ái.
  4. 4. “Trong Đức Giêsu Kitô, anh em được tràn đầy mọi ơn.” Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta trong năm “Tân phúc âm hóa đời sống cộng đoàn” này, không ngừng canh tân đời sống và tích cực góp phần xây dựng cộng đoàn.

Chủ tế: Lạy Thiên Chúa là Cha toàn năng hằng hữu, xin thương nhậm lời chúng con cầu nguyện, và giúp chúng con luôn biết tỉnh thức sống tư cách là con cái Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống hiện tại. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

[Mục Lục]

Bài 27. Tỉnh thức và sẵn sàng

AM Trần Bình An

Waiting for Godot (Chờ Godot) là vở kịch của nhà văn Samuel Beckett. Ông được trao giải Nobel Văn học 1969. Tác phẩm này được coi là Vở kịch tiếng Anh đáng lưu ý nhất thế kỷ 20.

Hai nhân vật Estragon và Vladimir thất nghiệp tìm mọi cách giết thì giờ trong khi chờ đợi một người được gọi là Godot, nhưng cuối cùng đợi không được; Godot có thể tồn tại, cũng có thể không tồn tại, kịch kết thúc, Godot cũng không đến. Toàn bộ tác phẩm ngoài việc đợi chờ, không có một điều gì khác phát sinh, tại sao lại đợi Godot, Godot là ai, tại sao Godot không đến, tất cả những điều này đều không quan trọng. Tác phẩm dùng cốt truyện không kịch như vậy là để nói lên một điều, nhân loại ngoài việc đợi chờ vô vọng hoặc ngồi đó chờ chết thì không còn con đường nào khác; con người đã không thể biết được về vận mệnh của mình, không thể suy tư về tất cả những thứ quanh mình, cho nên, ngoài việc đợi chờ đầy tiêu cực, ngoài những việc vô nghĩa như vậy, còn biết làm gì đây? Tác phẩm không có nội dung cụ thể, đợi chờ mù quáng và vô vọng chính là nội dung, ý nghĩa của nó là sự vô nghĩa của đợi chờ.

Waiting for Godot là một tác phẩm tiêu biểu cho loại kịch phi lý. Nó không có cốt truyện, cũng không có cao trào. Cũng có thể gọi nó là bi kịch mang tính chất trào lộng. Tuy nhiên, thông điệp đó lại được thể hiện hết sức thú vị qua những tình tiết hài hóa bi kịch. Beckett đã đưa triết học hiện sinh chủ nghĩa lên sân khấu và gây sự kích động mạnh mẽ trong công chúng và cả giới phê bình. (Wikipedia)

Trong bối cảnh hoang tàn sau thế chiến II, thuyết Hiện Sinh nở rộ tại Âu Châu, nghi hoặc những gì cao siêu, thiếu cụ thể, chỉ bằng lòng những gì đang hiện hữu cảm nhận được. Nên bản ngã lên ngôi, tha hồ hưởng lạc, coi tha nhân là hỏa ngục. Hoàn toàn trái ngược với Kitô giáo, tín hữu biết mình là ai, sống làm chi và biết mình chờ ai. Sinh ký tử quy, tín hữu Kitô biết mình sẽ trở về trình diện Đấng Thẩm Phán chung cuộc.

Tin Mừng Thánh Marcô hôm nay mở đầu năm Phụng Vụ B, đồng thời dẫn vào Chúa Nhật I Mùa Vọng. Chúa Giêsu kêu gọi mọi người hãy tỉnh thức và sẵn sàng cho Ngày Chúa Đến. Chúa không muốn con người thức tỉnh trong lo âu, sợ hãi, sầu bi, ủ rũ, bất an hoặc thất vọng, mà hoàn toàn trái lại.

Niềm vui cho đi

Trước tiên, tỉnh thức là sống trọn vẹn giây phút hiện tại, theo Thánh Ý Chúa đã mời gọi, vui vẻ chu toàn bổn phận, trách nhiệm được Chúa trao phó cho mỗi người một việc. “Cũng như người kia trẩy phương xa, để nhà lại, trao quyền cho các đầy tớ của mình, chỉ định cho mỗi người một việc…” (Mc 13, 34)

Chu toàn bổn phận với bản thân và với tha nhân luôn đòi hỏi tinh thần xả kỷ vị tha, bỏ mình, quên mình để yêu thương phục vụ mọi người. Đồng nghĩa cho đi, trở nên tặng phẩm, niềm vui cho mọi người.

“Bổn phận là giấy vào Nước Trời: Ai thực hiện ý Cha Ta trên trời, sẽ vào Nước Trời.” (Đường Hy Vọng, số 27)

Bình an nhận lại

Tỉnh thức cũng là sẵn sàng đón nhận mọi biến cố xảy đến trong đời một cách an vui. Dù biến cố tích cực hay tiêu cực, dù bệnh hoạn, đau yếu hay khỏe mạnh, sung mãn, tất cả đều là hồng ân, cũng như thánh giá Chúa gửi đến thử thách, trui luyện trên đường về quê. Cứ bình an, bình tĩnh đón nhận. Quà tặng trước khi đi xa, Đức Giêsu trao lại cho con người chính là bình an. “Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng. Lòng anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi.” (Ga 14, 27)

Tỉnh thức là chấp nhận tất cả những gì tha nhân gửi đến với tâm hồn thanh thản, bình an. Lời khen, tiếng chê, nhục mạ, vô ơn, lẫn lời an ủi, khuyến khích, nâng đỡ, che chở, đều có thể giúp mỗi người thăng tiến đường tâm linh, nếu biết sống theo Lời Chúa, theo quan niệm Chúa, theo đường lối Chúa.

“Gian khổ là cơm bữa của đời người. Nhưng với người Công giáo, cuộc sống của họ “loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại.” Con có sung sướng khi đọc lời ấy không?” (Đường Hy Vọng, số 710)

Cầu nguyện & Hy vọng

Trong suốt cuộc đời vất vả, tranh đấu với sự dữ, cái ác, tội lỗi, thì tỉnh thức là luôn thành tâm cầu nguyện mọi nơi, mọi lúc. Luôn kết hợp mật thiết với Đức Giêsu, để Người che chở, cứu giúp, giải thoát khỏi ba thù, khỏi thử thách khắc nghiệt, mà vui vẻ cho đi và bình an nhận lại. “Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người.” (Lc 21, 36) Lời cầu nguyện cao quý nhất là tham dự Thánh Lễ, hầu được bổ dưỡng, thánh hóa, bằng chính mầu nhiệm Mình Máu Chúa.

“Ai trong anh em đau khổ ư? Hãy cầu nguyện. Ai vui vẻ chăng? Người ấy hãy hát thánh ca. Ai trong anh em đau yếu ư? Người ấy hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến; họ sẽ cầu nguyện cho người ấy, sau khi xức dầu nhân danh Chúa.” (Gc 5, 13-14) Thánh Giacôbê đã chân tình khuyên nhủ trong Thư Chung.

“Chúa dạy đọc kinh, để giúp con cầu nguyện, nhưng việc chính là gặp gỡ, nói chuyện giữa Cha và con: “Khi cầu nguyện, đừng lo phải nói gì! Hãy vào phòng đóng cửa, cầu nguyện với Cha của con cách kín đáo, và Cha con thấy mọi sự, sẽ nghe lời con.” Không cần hình thức, chỉ cần tâm tình phụ tử.” (Đường Hy Vọng, số 127)

“Chấm này nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài. Phút này nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống.

Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp.

Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh.

Đường hy vọng do mỗi chấm hy vọng.

Đời hy vọng do mỗi phút hy vọng.” (Đường Hy Vọng, số 978)

Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con biết luôn tình thức và sẵn sàng đón Chúa đến từng giây phút, từng ngày giờ. Xin Chúa hướng dẫn, chỉ bảo chúng con biết đón tiếp tha nhân, biết cho đi tất cả, yêu thương và phục vụ suốt đời. Xin Chúa ban chúng con Chúa Thánh Thần, để soi sáng, đổi mới, thánh hóa chúng con, sẵn sàng về với Chúa bất cứ lúc nào.

Lạy Mẹ Maria, khấn xin Mẹ dọn lòng trí chúng con luôn sẵn sàng đón Chúa, luôn sống cho Chúa và tha nhân, để chúng con luôn xứng đáng làm con Chúa. Amen.

MỤC LỤC

Khách truy cập

Hôm nay:6874
Hôm qua:23371
Tuần này:127513
Tháng này369716
Số Lượt Truy Cập:33707133
Số khách đang Online 302